Warning: Use of undefined constant REQUEST_URI - assumed 'REQUEST_URI' (this will throw an Error in a future version of PHP) in /home/thientinhm/domains/thientinhmat.com/public_html/chualongphuoc/wp-content/themes/flatsome-child/functions.php on line 145 THIỀN VÀ DUY THỨC HỌC – CHÙA LONG PHƯỚC

THIỀN VÀ DUY THỨC HỌC

Bài 1: Khái lược về Thiền

Bài 2: Tổng quan về Duy Thức học

Bài 3: 51 món tâm sở

Bài 4: Các món tâm sở phiền não

Bài 5: 4 món tâm sở bất định và 11 món Sắc Pháp

Bài 6: 24 món tâm bất tương ưng hành pháp

Bài 7: 6 vô vi pháp

Bài 8: Trạng thái vận hành ý thức

Bài 9: Đệ bát thức A lại da

 

Bài 1: Khái lược về Thiền

Tất cả các pháp môn tu đều lấy sự nhiếp tâm, nhứt tâm làm căn bản để ứng dụng tu tập. Tại sao phải nhứt tâm, chả lẽ con người đa tâm hay sao? Mà nay bắt đầu tu hành phải lấy một tâm (nhứt tâm)? Còn tâm phóng túng, loạn động nó nằm ở đâu mà phải nhiếp chế nó lại? Và trạng thái sinh khởi của nó từ đâu? Đây chính là nguyên nhân mà hành giả tu trì phải biết. Có biết ta mới chế phục (nhiếp) nó. Đó chính là Thiền (giai đoạn tập sự).

Thiền là sự tỉnh lặng (thiền na), lên giai đoạn cao hơn nữa, Thiền còn biết là Thiền thì Phi Thiền (chẳng phải Thiền) bởi nó còn nằm trong đối chất Tịnh/Động, v/v… Luận về Thiền quả thật là cao sâu. Cảnh giới ấy đòi hỏi hành giả phải dầy công tu tập, không thể trong một thời gian ngắn mà đạt được kết quả.

Như trên đã nói, bất kỳ pháp môn nào cũng phải lấy Thiền làm gốc. Ví dụ: tu Tịnh Độ (niệm Phật) thiếu Thiền được không? Thiếu nhứt tâm (nhiếp tâm) thì niệm Phật đâu còn tác dụng nữa. Chẳng qua chỉ là hình thức hay chiếc máy niệm Phật mà thôi. Trì chú (Mật Tông) thiếu chánh niệm (Thiền) cũng không có kết quả. Thậm chí còn tự hại cho mình là đằng khác. Còn tu Thiền không rõ từ đâu có Động, từ đâu có Tịnh để cương tỏa nó. Và phải dùng phương pháp nào để cương tỏa? Không khéo giống như lấy tấm gạch đè cỏ cú (cỏ gấu), nó chỉ tàn lụi nhất thời và khi bật tấm gạch lên cỏ cú lại tươi tốt vượt trội hơn những chổ khác. Hành giả cần phải nắm rõ pháp yếu này. Cũng như con trâu hoang, không hiểu được sở thích của nó, không nhẫn nại tìm hiểu cá tính của nó, cứ đem cỏ lêu lêu trước mặt nhữ, rồi vội vàng vuốt ve, coi chừng cặp sừng Bất Giác của nó phản hồi lại ta sẽ chết trong Nhất Xiểng Đề hoặc là Ma Vô trí (tứ trí).

Hành giả tu thiền là người chăm giữ con trâu tâm. Từ vô lượng kiếp buông thả nó dong rũi trở thành trâu hoang, người thì thờ ơ mặc tình. Nay xiềng tỏa nó lại để huấn luyện thuần thục, Khi được thuần thục rồi, thì giữa người và trâu mới an nhiên tự tại. Không còn nhị nguyên, cùng 1 thể lặng yên đó chính là Thiền Định.

Muốn đạt được cảnh giới đó, phải lấy Trí làm cái mốc, dung nạp giữa Tánh Không (duyên khởi) cùng thật tướng Chơn Không Diệu Hữu. Hành giả phải hiểu rốt ráo chổ này, giữa tánh không và chơn không nghe qua có khác, nhưng kỳ thật nó là tiến trình tu chứng.

Bởi tánh không là tánh duyên khởi các pháp. Nhưng các pháp không làm cho tánh không ô nhiễm ví dụ như nước và phấn sáp lá sen hoàn toàn không bị vướn mắc. Đây là đạt cảnh giới Hữu Dư Y Niết Bàn (A La Hán quả). Nhưng nó vẫn còn nhị nguyên tánh không và các pháp. Khi phá trừ được nhị nguyên thì tánh không nó trở về với chơn không, các pháp do tánh không duyên khởi nó hoàn toàn không còn đối đãi, các pháp trở về tánh của nó là Diệu Hữu, đây là trạng thái Vô Dư Y Niết Bàn.

 Niết Bàn là tịch tịnh

Thiền Định là vắng lặng

Tánh không là tướng

Chơn không là tánh

Các pháp là tướng

Diệu hữu là tánh

Cho nên tánh không nó có công năng duyên khởi các pháp nên gọi nó là tướng. Còn chơn không nó không phải là “không – không” mà trong đó nó có diệu hữu cho nên gọi là tánh.

Bởi thế khi tu chứng nó có hai

1/Hữu dư y niết bàn (A La Hán)

2/Vô dư y niết bàn (Phật quả)

Nên trong tứ đức Niết bàn:

1/Vô thường chuyển hóa 1/Chơn thường
2/Khổ,vui chuyển hóa 2/Chơn lạc
3/Không (Tịnh, Động) chuyển hóa 3/Chơn Tịnh
4/Vô ngã (ngã sở)

Tánh không

A La Hán quả

chuyển hóa 4/Chơn ngã

Chơn không

Phật quả

 

Ngã tìm ẩn tánh không như: Duy ngã, ngã văn, nhử đẳng ư ngã

Và khi trở về Thiền quán là do tánh không nó duyên khởi mà có đối đãi. Khi tu tập đến giai đoạn đạt cảnh giới chơn không diệu hữu thì chuyển hóa vô thường thành chơn thường, khổ lạc chuyển hóa thành chơn lạc rốt ráo, Tịnh/Động chuyển hóa thành chơn tịnh. Ngã, ngã sở chuyển hóa thành chơn ngã. Nhập đến tứ đức Niết bàn gọi là chổ cứu cánh tịch diệt. Nhưng tịch diệt chổ chơn không này không đồng nghĩa vắng bặt mất hết tất cả, bởi nó vốn có cái diệu hữu của bản lai diện mục trong chơn tâm.

Từ trước đến đây là một tiến trình tu tập để đạt cứu cánh Niết bàn vì thiền định (thiền na) là chổ tịch tịnh của tâm thức. Chổ vắng bặt mọi vọng khởi (vọng niệm) tâm thức lúc đó nó không trên, không dưới, không trong không ngoài, không chổ tác duyên, không chấp nơi dừng trụ rõ lý này là ý của câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (kinh kim cang) chổ tịch tịnh ấy là khoảng giữa của trụ và vô trụ xuất phát từ tâm thức (chơn tâm) cứu cánh của Bát Nhã Trí.

Chữ Bát Nhã nghĩa là trí mà trí bát nhã giống như điệp nghĩa, hành giả phải hiểu ý này. Từ thế trí đến Phật trí phải trải qua giai đoạn chuyển 8 thức thành tứ trí. Tứ trí này vẫn còn trụ vào trí để phân biệt (A Lại Da thức mới chuyển sang đại viên cảnh trí). Rốt ráo của Đại viên cảnh trí trở về tánh của A đà na thức (Bạch Tịnh Thức) nó mới chứng đến Pháp giới thể tánh trí

Đại viên cảnh trí là tướng trí

Pháp giới thể tánh trí là tánh trí

Đức Thế Tôn tu tập đạt được cảnh giới này là chổ cứu cánh niết bàn. Đây là nguyên khởi Như Lai Thiền

 

Bài 2: Tổng quan về Duy Thức học

 

Duy thức học là môn học về Pháp tướng tôn. Tất cả các pháp rất nhiều chung quy chỉ có 100 pháp, bao gồm:

8 thức tâm vương

51 món tâm sở hữu pháp

11 món sắc pháp

24 món bất tương ưng hành pháp

6 món vô vi pháp

8 thức (tâm vương) làm chủ tế của các pháp, gồm có:

  1. Nhãn căn tiếp xúc với sắc trần
  2. Nhĩ căn tiếp xúc với thinh trần
  3. Tỹ căn tiếp xúc với hương trần 5 món bên ngoài này còn gọi là tiền ngũ thức
  4. Thiệt căn tiếp xúc với vị trần
  5. Thân căn tiếp xúc với xúc trần

5 thức trên phải nhờ ý thức (thức thứ 6) (thức phân biệt) nó mới thành nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức

Riêng thức thứ 6 nương nơi ý căn (thức thứ 7) khởi tác dụng phân biệt Pháp trần nên nó được gọi là ý thức

Thức thứ 7 (mạt-na thức): ý căn nó làm căn cho thức thứ 6, truyền tổng thức. Vì nó có công năng truyền các pháp hiện hành vào tàng thức (A lại da thức hay thức thứ 8) và tống đưa các pháp chủng tử khởi ra hiện hành. Ý thức, bởi nó sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là Ý ví sợ lầm lộn ý thức (thức thứ 6) nên chỉ gọi là ý bỏ chữ thức). Thức này nó duyên kiến phần của A lại thức (thức thứ 8) làm thật ngã, thật pháp.

Thức thứ 8 theo thứ đệ nó có nhiều tên như A lại da thức, tàng thức nó có công năng chứa đựng chủng tử của các pháp, thức là thể, chứa là dụng. Có 3 nghĩa:

a.Năng tàng: có công năng chứa đựng và giữ gìn chủng tử của các pháp

b.Sở tàng: chổ để chứa các pháp

c.Ngã ái chấp tàng: do thức thứ 7 (mạt na) chấp kiến phần của thức này làm ta và thường luyến ái.

 Tám thức và các duyên

*Nhãn thức (mắt) nó đủ 9 duyên

1.Hư không 2.Ánh sáng 3.Căn 4.Cảnh 5.Tác ý 6.Phân biệt 7.Nhiễm tịnh y 8.Căn bản y 9.Chủng tử y

*Nhĩ thức (lỗ tai) chỉ có 8 duyên:

Như trên trừ ra ánh sáng (lỗ tai không duyên được)

*Tỹ, thiệt và thân thức (mũi, lưỡi, thân) chỉ có 7 duyên như trên, trừ ra hư không và ánh sáng

*Ý thức chỉ còn 5 món:

1.Căn 2.Cảnh 3.Tác ý 4.Căn bản y 5. Chủng tử y

*Mạt na thức: có 3 duyên

1.Căn cảnh 3.Tác ý 4. Chủng tử y

*A lại da thức: có 4 duyên

1.Căn (mạt na) 2.Cảnh (căn thân, khí giới và chủng tử) 3.Tác ý 4. Chủng tử y

Vậy 8 thức trên gọi là Tâm vương. Vì tâm có công năng thù thắng hơn hết cũng như Vua có uy thế thống trị thiên hạ

Tâm, ý và thức:

– Thức thứ 8 (A lại da): vì y theo đặc tính của mỗi thức thì nó tích tập thù thắng nên gọi là Tâm

– Thức thứ 7 (mạt na): nó sanh diệt tương tục thù thắng nên gọi là Ý

– 6 thức trước (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý thức): nó phân biệt thù thắng nên gọi là thức

Tóm lại:

A lại da là tâm

Mạt na là ý

6 thức trước là thức

 Bài 3: 51 món tâm sở

Nói đủ là tâm sở hữu pháp, là pháp sở hữu của tâm vương, tâm sở tùy theo tâm vương mà khởi và giúp đỡ tâm vương để tạo nghiệp

Chia làm 6 loại:

I.Biến hành: đi khắp thế gian, không gian, thức (8 thức), tánh (lành, dữ, vô ký)

1/Xúc: tiếp xúc, tánh của nó làm cho tâm vương tâm sở tiếp xúc với cảnh, nghiệp dụng làm chổ nương cho thọ, tưởng, tư,..để phát sanh

2/Tác ý: móng khởi, tánh nó đánh thức chủng tử tâm vương, tâm sở để sanh khởi, nghiệp dụng dẫn tâm đến duyên tự cảnh

3/Thọ: lãnh thọ cảnh thuận, nghịch, không thuận nghịch, vui, buồn và bình thường

4/Tưởng: tưởng tượng, bịa đặt những danh từ để kêu gọi như trắng, đen, dài, ngắn,..

5/Tư: lo nghĩ tạo tác, nghiệp dụng hay sai khiến tâm làm những việc lành, dữ hoặc không lành không dữ

II.Biệt cảnh: mỗi cảnh riêng, duyên khác nhau có 5 món:

1/Dục: mong muốn duyên những cảnh vui thích, nghiệp dụng làm chổ nương cho siêng năng

2/Thắng giải: hiểu biết rõ ràng không có nghi ngờ, nghiệp dụng quyết định không chuyển đổi

3/Niệm: nhớ rõ ràng những cảnh đã qua, nghiệp dụng làm chổ nương cho Định

4/Định: tâm đối cảnh chuyên chú không tán loạn, nghiệp dụng làm sanh ra trí

5/Huệ: đối với cảnh sáng suốt lựa chọn, nghiệp dụng suy xét dứt nghi ngờ

III.Thiện bản tánh hiền lành làm lợi ích cho chúng sanh, có 11 món:

1/Tín: tin chịu những gì có thật (chân thật), đức (hình dung), năng (nghiệp dụng) làm cho tâm được thanh tịnh, nghiệp dụng đối trị bất tín và ưa việc lành

2/Tinh tấn: tinh tấn đoạn các việc dữ, siêng làm các việc lành, nghiệp dụng đối trị giải đãi, viên mãn việc lành

3/Tàm: xấu hổ khi làm việc quấy, kính trọng người hiền, ưa việc phải, nghiệp dụng đối trị tâm không biết xấu hổ và ngăn ngừa việc dữ

4/Quý: khi làm việc quấy, thấy người thẹn thùa, không thích gần người ác, nghiệp dụng đối trị tâm không biết thẹn và ngăn ngừa việc ác

5/Vô tham: không tham lam cảnh dục lạc trong tam giới, đối trị lòng tham ưa làm việc lành

6/Vô sân: đối với cảnh nghịch không sân hận, đối trị sân hận ưa làm việc lành

7/Vô si: đối sự lý hiểu rành rẽ không mờ ám, đối trị si mê ưa làm việc lành

8/Kinh an: thân tâm nhẹ nhàng khoang khoái, xa lìa nặng nề bực bội, nghiệp dụng xa lìa hôn trầm

9/Bất phóng dật: phòng ngừa việc ác, làm việc lành, không buông lung phóng túng

10/Hành xã: khi làm các việc thiện, không chấp trước, khiến tâm an trụ nơi vô công, đối trị trạo cữ khiến tâm an trụ nơi yên tĩnh

11/Bất hại: không làm tổn hai tất cả chúng hữu tình, đối trị tổn hai, khởi từ bi thương xót loài vật

Bài 4: Các món tâm sở phiền não

A.Căn bản phiền não

6 món phiền não này thuộc về ác, cội gốc sanh ra chi mạc phiền não, nên gọi là căn bản

1/Tham: tham lam đắm nhiễm như tài, sắc, danh vọng,.. làm chướng ngại vô tham và sanh tội khổ

2/Sân: giận, ghét những cảnh trái nghịch, làm cho thân, tâm không yên ổn, làm chướng ngại tánh vô sân, và sanh các tội lỗi

3/Si: mê muội không biết phải quấy hay dỡ, nghiệp dụng sanh ra các pháp tạp nhiễm, chướng ngại tánh vô si

Ba món phiền não tâm sở này, làm chướng ngại 3 món vô lậu giới, định, tuệ

4/Mạn: ỷ tài năng và thế lực của mình, khinh dễ ngạo mạn người, nghiệp dụng làm nhân sanh ra tội lỗi, chướng ngại tánh không khinh mạn

5/Nghi: nghi ngờ không tin những việc phải, chơn chánh, làm trở ngài việc lành, trở ngại tánh không nghi

6/Ác kiến: thấy biết 1 cách tội ác và nhiễm ô, hiểu biết điên đảo không chánh, gây tạo tội khổ, chướng ngại những hiểu biết chơn chánh.

Ác kiến này có 5 món:

1.Thân kiến: chấp ta (ngã)

2.Biên kiến: chấp 1 bên Ta chết rồi mất hẳn (chấp đoạn) hoặc chết rồi còn hoài (chấp thường)

3.Tà kiến: mê tín, dị đoan, tà kiến

4.Kiến thủ: cố chấp cho mình đúng tuyệt đối

5.Giới cấm thủ: chấp theo tục lệ không hay hoặc giới cám không chân chính của ngoại đạo

B.Tùy phiền não

20 món tùy phiền não tùy thuộc 6 món căn bản trên mà sanh khởi, phạm vi tương ứng của nó rộng hẹp không đồng nên chia làm 3 loại:

 I.Tiểu tùy có 10 món tự lực sanh khởi, phạm vi nhỏ hẹp (tiểu)

1/Phẩn: gặp cảnh trái nghịch nóng giận, nghiệp dụng làm tổn hại người, chướng ngại tánh không nóng giận

2/Hận: gặp cảnh trái, trước nóng sau hờn, tánh hay ôm ấp oán ghét, nóng nảy buồn phiền, chướng ngại tánh không hờn

3/Phú: che dấu, sợ mất danh giá và quyền lợi hay ăn năng, buồn, làm chướng ngại tánh không che dấu

4/Não: gặp cảnh nghịch trước nóng sau buồn buồn và thường nhớ lại cảnh trái nghịch đã qua, làm chướng ngại tánh không buồn

5/Tật: ai hơn mình hay đố kỵ ganh ghét, giả bộ lèn xèn nghèo cực, để tích trữ tài sản, chướng ngại tánh không bỏn sẻn

6/San: bỏn sẻn rích rắm, không dám cho người tài, pháp, giả bộ quê mùa, nghèo cực để tích lũy của cải, chướng ngại tánh không bỏn sẻn

7/Cuống: dối gạt người để lợi mình, làm việc không chơn chánh để nuôi sống, chướng ngại tánh không dối gạt

8/Siểm: lựa thời thế nịnh hót, bợ đỡ không nghe lời chỉ giáo của Thầy bạn, chướng ngại tánh không dua nịnh

9/Hại: tổn hại các loài hữu tình bức não người, vật, chướng ngại tánh không hại

10/Kiêu: có chút đỉnh quyền thế, giàu sang, tài năng sanh ra kiêu hãnh, ngạo nghễ, làm nhơn sanh ra nhiễm ô, tội lỗi, chướng ngại tánh không kiêu căng

II/Trung tùy: 2 món tâm sở này duyên các món tâm sở bất thiện tương ưng trung bình

11/Vô tàm: làm việc quấy không biết xấu hổ, khinh dễ người hiền, tăng trưởng việc ác, chướng ngại tánh biết xấu hổ

12/Vô quý: làm việc quấy không biết thẹn với người, ưa làm tội ác, tăng trưởng tội ác chướng ngại tánh biết hổ thẹn

III/Đại tùy: 8 món này biến khắp tâm sở thiện, phạm vi rộng hơn 2 món trước (đại)

13/Trạo cử: thân tâm chao động không yên tĩnh, chướng ngại định và hành xã

14/Hôn trầm: đối quán cảnh mờ mịt không sáng suốt, chướng ngại huệ và khinh an

15/Bất tín: không tin các pháp lành làm tâm tánh ô nhiễm hay sanh giải đãi, chướng ngại tâm thanh tịnh

16/Giải đãi: biến nhác không lo đoạn ác tu thiện, chướng ngại tinh tấn, tăng trưởng tánh ô nhiễm

17/Phóng dật: phóng túng buông lung, không thúc liễu thân tâm đoạn ác tu thiện, tăng ác tổn thiện, chướng ngại tánh không buông lung

18/Thất niệm: không nhớ cảnh đã duyên, chướng ngại chánh niệm sanh tán loạn

19/Tán loạn: làm cho tâm tán loạn, làm chướng chánh định sanh ác huệ

20/Bất chánh tri: đối cảnh hiểu biết sai lầm. Chướng ngại hiểu biết chơn chánh sanh ra phạm giới

 

Bài 5: 4 món tâm sở bất định và 11 món Sắc Pháp

4 món tâm sở bất định

4 món tâm sở này không nhất định là thiện hay ác

1/Hối: ăn năn, có chổ gọi là “ô tác” ghét việc làm đã qua, cũng là dị danh của “hối”, làm chướng ngại định

Ăn năn có khi thiện có khi ác. “Thiện” đánh người bậy quá. “Ác” lúc nảy phải chi chôm món đồ đó

2/Miên: tìm cầu mờ mịt, thân không tự tại, chướng ngại quán tưởng, tánh ngủ này có khi thiện, có khi ác. “Thiện” ngủ phải thời đúng lúc. “Ác” nghe kinh niệm Phật

3/Tầm: thiện và ác không nhứt định tùy trường hợp, tâm đối cảnh danh ngôn của ý thức mà sanh khởi thô động, làm cho thân tâm không an

4/Tư: suy xét chính chắn, cũng có thiện ác tùy trường hợp, tâm đối cảnh danh ngôn của ý thức sanh khởi tế nhị, làm cho thân tâm được yên

Tóm lại, chúng sanh tạo nghiệp lành dữ, khổ vui không ngoài phạm vi 8 tâm vương và 51 tâm sở

11 món Sắc Pháp

Gồm hình sắc và màu sắc

Gồm có:

– 5 căn: 1/Nhãn căn. 2/Nhĩ căn. 3/Tỹ căn. 4/Thiệt căn. 5/Thân căn

– 6 trần: 1/Sắc trần. 2/Thinh trần. 3/Hương trần. 4/Vị trần. 5/Xúc trần. 6/Pháp trần

Sắc pháp là tướng phần/ ảnh tượng của tâm vương và tâm sở (nhị sở hiện ảnh cố)

1/Nhãn căn: căn là chổ nương cho thức, phát sanh ra thức. Trong 5 căn, căn nào cũng có 2 thứ: 1/Thắng nghĩa căn: tinh tế bên trong 2/Phù trần căn: thô phù bên ngoài, hình tướng như trái nho (nhãn), chiếu soi các sắc

2/Nhĩ căn: vành và lỗ tai, hay nghe các tiếng

3/Tỹ căn: tướng mũi hay ngửi các mùi thơm hôi

4/Thiệt căn: tướng miệng, nếm các vị, nói năng

5/Thân căn: thân là tích tụ các bộ phận cho các căn kia, duyên xúc trần như nặng nhẹ, mềm cứng, trơn láng

6/Sắc trần: cảnh bị thấy của mắt. Trần có 25 món: 1/xanh 2/vàng 3/đỏ 4/trắng 5/dài 6/ngắn 7/vuông 8/tròn 9/to 10/nhỏ 11/cao 12/thấp 13/ngay 14/xiên 15/ánh sáng 16/bóng 17/ sáng 18/tối 19/khói 20/bụi 21/mây 22/mù 23/cực lược sắc (sắc rất nhỏ), cực hánh sắc (sắc rất xa) 24/biểu sắc (sắc có nên ra được) 25/sắc hư không

7/Thinh trần: tiếng, bị nghe của tai, có 12 loại: 1/tiếng nói chung là các tiếng 2/tiếng vừa ý 3/tiếng không vừa ý 4/tiếng bình thường không ưa không ghét 5/tiếng loài hữu tình 6/tiếng loài vô tình 7/tiếng của hữu tình lẫn vô tình (tiếng trống do người đánh) 8/tiếng thế tục nói 9/tiếng của thánh nhân nói 10/tiếng của ngoại đạo (do biến kế sở chấp) 11/tiếng chánh (thánh ngôn) thấy, nghe, hay, biết là nói lại như thật 12/tiếng vang

8/Hương trần: cảnh bị ngửi của mùi 1/thơm 2/hôi 3/không thơm hôi 4/mùi từ bản chất sanh (cu sanh hương) 5/mùi do chế tạo (hòa hiệp hương) 6/do sự biến đổi mà có

9/Vị trần: bị nếm của lưỡi: 1/đắng 2/chua 3/ngọt 4/cay 5/mặn 6/lạt 7/vừa ý 8/không vừa ý 9/bình thường 10/từ bản chất sanh 11/do hòa hợp chế tạo 12/do biến đổi

10/Xúc trần: bị biết của thân: 1/đất – nước – gió – lửa – nhẹ – nặng – nhám – trơn – hưởn – gấp – lạnh – nóng – cứng – mềm – đói – khát – no – sức lực – yếu – buồn – ngứa – dính – già – bịnh – ốm – chết

11/Pháp trần: bóng dáng của 5 trần còn lưu lại trong ý thức. Nghĩa là mắt tuy không thấy sắc … mà trong ý thức vẫn nhớ lại bóng dáng của 5 trần … (bóng đó là pháp trần) còn gọi là “lạc tạ ảnh tử” (bóng rớt lại) có 5:

1/cực lược sắc: rất nhỏ như vi trần

2/cực hánh sắc: sắc rất xa tăm tăm mù

3/định quả sắc: sắc tướng do tu định hiện ra…nước, lửa, thế giới v/v..

4/vô biểu sắc: sắc không nêu bày ra được. Khi thọ giới, ý thức lãnh thọ mà có, gọi là “thọ sở dẫn sắc”

5/biến kế sở chấp sắc: do ý thức vọng tưởng phân biệt mà có, chẳng thật

Bài 6: 24 món tâm bất tương ưng hành pháp

Hành pháp là những pháp thuộc về “hành uẩn” 1 trong 5 uẩn

Chữ hành là sanh diệt, dời đổi

Chữ uẩn là chứa nhóm. Có 2 loại:

1/Tương ưng hành uẩn: 51 món tâm sở ưng thuận với tâm vương

2/Bất tương ưng: 24 món này không tương ưng với tâm, chúng chỉ y ba phần Tâm vương – Tâm sở – Sắc pháp mà dã thành lập (tam vị sai biệt cố)

1/Đắc: được phải đủ 4 (sắc pháp + nhãn thức + ý thức) ví dụ: lượm được 10 đồng (10 đồng là sắc + mắt thấy 10 đồng + ý thức 10 đồng sài được) cùng với tâm sở chung khởi mới thành nghĩa “được”

2/Mạng căn: do nghiệp kéo dẫn làm cho thần thức thọ thân, sống thời gian lâu hay mau

3/Chúng đồng phận: các chủng loại chúng sanh loài nào đồng với loài đó

4/Dị sanh tánh: những loài sanh ra khác thánh nhân (phi đắc) phàm phu không được thánh quả (dị sanh tánh) hay “phi đắc” đều được cả

5/Vô tưởng định: định này diệt hết tâm vương + tâm sở và 6 thức trước. Song đây chỉ là “vô tưởng” vì tưởng làm chủ động vậy.

6/Diệt tận định: định này diệt hết tâm vương + tâm sở + 6 thức trước + diệt luôn phần tạp nhiễm của tâm vương, tâm sở và thức thứ 7 ( vô tưởng là định của phàm phu còn diệt tận định là của thánh nhơn)

7/Vô tưởng báo: người cỏi dục tu vô tưởng định khi mạng chung đặng báo thân ở cỏi trời vô tưởng

8/Danh thân: tên hay danh từ – có đơn và kép

9/Cú thân: câu, ráp nhiều tiếng thành câu, có ngắn có dài

10/Văn thân: chữ là chổ y chỉ của danh từ và câu

11/Sanh: sanh ra, từ trước giờ không có nay mới có

12/Trụ: đã sanh ra rồi còn lưu lại chưa hoại diệt

13/Lão: già suy yếu, gần chết

14/Vô thường: không thường còn, biệt danh của cái chết

15/Lưu chuyển: nhơn quả xoay dần nối nhau không dứt

16/Định di: nhân quả lành dữ khác nhau không lộn lạo

17/Tương ưng: nhân nào quả nấy, cân xứng ưng thuận với nhau.

(Bất tương ưng để phân biệt 24 món này, không phải tương ưng tâm sở, món thứ 17 này do sắc – tâm – tâm sở hòa hợp mà nói – nó không đồng với tương ưng tâm sở trước

18/Thế tốc: các pháp hữu vi xoay dần mau chóng

19/Thứ đệ: thứ lớp không có lộn lạo

20/Thời: thời gian quá khứ –  hiện tại – vị lai

21/Phương: không gian: đông – tây – nam – bắc tứ duy thượng – hạ

22/Số: số lượng 1 – 2 – 3 – 4 – 5 ….

23/Hòa hợp tánh: các duyên hòa hợp không trái với nhau

24/Bất hòa hợp tánh: những pháp chống trái không hòa hợp nhau

Tóm lại: 94 pháp trước đây: 8 món tâm vương + 51 món tâm sở + 11 món sắc pháp + 24 món bất tương ưng hành đều thuộc pháp hữu vi sanh diệt biến đổi. Hữu vi là những gì có tạo tác, sanh diệt không thường còn. Vô vi không tạo tác, sanh diệt, tăng giảm, vắng lặng thường còn.

Bài 7: 6 vô vi pháp

Pháp vô vi không sanh diệt, không biến đổi. 94 món pháp hữu vi diệt rồi pháp vô vi mới hiển bày (tức sở hiện thị cố)

Vô vi không phải có 6 pháp, vì theo từng khía cạnh của nó để giải thích, nên đặt ra 6 tên

1/Hư không vô vi: không ngã không pháp rời các cấu nhiễm rỗng rang như hư không, chơn như, pháp tánh. Không dùng ý thức suy nghĩ, nó phi sắc phi tâm, không cấu tịnh, sanh, diệt và tăng giảm nên gọi là vô vi

2/Trạch diệt vô vi: dùng trí huệ vô lậu lựa chọn diệt trừ nhiễm ô, nên chơn như vô vi mới hiện

3/Phi trạch diệt vô vi: không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não, có 2:

a/Tánh chơn như vốn thanh tịnh, không cần lựa chọn, diệt trừ phiền não nhiễm ô nó mới có

b/Các pháp hữu vi thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi được hiện nên gọi là phi trạch diệt

4/Bất động diệt vô vi: đệ tứ thiền lìa được 3 định dưới ra khỏi tam tai (đau binh, thủy, hoả) không bị mừng, giận, ghét, thương,.. làm chao động nơi tâm

5/Thọ tưởng diệt vô vi: khi được diệt tận định, diệt trừ thọ và tưởng tâm sở nên gọi thọ tưởng diệt vô vi

6/Chân như vô vi: không phải vọng gọi là chơn (biến kế sở chấp) không điên đảo gọi là như (y tha khởi) tức là thật tánh của các pháp (viên thành thật)

Tóm lại Vô ngã

Người ta chấp tất cả pháp thật có (chấp ngã có 2: nhân ngã, pháp ngã), chấp thân thật có là nhân ngã, chấp pháp (núi sông sơn hà đại địa..)

Pháp ngã do chấp ngã nên sanh ra tham, sân, si các nghiệp sanh tử luân hồi

Cho nên Phật dạy: các pháp vô ngã từ hữu tình ( nhân vô ngã) vô tình (hoàn cảnh sự vật…không thật có (pháp vô ngã).

Từ trước đến đây lược nói 100 pháp bao gồm nhân và pháp ngã. Phàm phu chấp nhân, pháp đều thật có, tiểu thừa chấp pháp ngã là thật có.

Luận này 8 món tâm vương là tự thể của thức hơn tất cả (nhứt thiết tối cố thắng cố), 51 tâm sở là tương ứng sở hữu của thức (dĩ thử tương ưng cố), 11 sắc pháp là hình bóng của tâm vương, tâm sở hiện ra (nhị sở hiện ảnh cố), 24 bất tương ưng do tâm vương + tâm sở + sắc pháp chia ngôi thứ sai khác, giả lập (tam phân di sai biệt cố), 6 món vô vi do 4 món vô vi (tâm vương + tâm sở + sắc pháp + bất tương ưng) diệt hết mà hiện bày ra tức là thật tánh của thức (tử sở hiển thị cố)

Bởi thế người ta chấp nhân, pháp ngã không ngoài thức. Phật dạy:

Nhứt thiết pháp vô ngã

Vạn pháp duy thức.

Bài 8: Trạng thái vận hành ý thức

1/Minh liễu ý thức (ngũ câu ý thức): ý thức phân biệt sự việc rõ ràng, nó cùng tiền ngũ thức đồng thời sanh khởi, hiện tượng cảnh vật (biểu sắc) phân biệt. Ví dụ: mắt thấy hoa hồng, hình dáng cành hoa (hình sắc) khi cộng với ý thức (thức thứ 6) tiến hành phân tích,biện giải nó mới nhận biết hoa hồng (ngũ câu ý thức)

2/Độc đầu ý thức: ý thức tự sinh khởi 1 mình (bất cầu ý thức) có 3 loại:

a/Tán vị ý thức: trạng thái ý thức không liên quan 5 thức trước, 1 mình tư duy sanh khởi. Ví dụ: nhớ nghĩ việc quá khứ, tưởng tượng việc tương lai,..

b/Mộng trung ý thức: ý thức hoạt động 1 mình trong giấc mộng. Ví dụ: giấc mộng thấy bị rượt đuổi mồ hôi ra lã chã,…

c/Định trung ý thức: tiến sâu vào chánh định tâm không tán loạn, ý thức chuyên vào cảnh định duyên vào lý – sự lý vô thường vô ngã. Sự chỉ cho cực lược sắc –cực huýnh sắc – và định tự tại mà sanh ra các cảnh sắc. Ví dụ: niệm Phật tam muội – khi định tâm sáng suốt thấy Phật – hào quang – thần thông biết việc quá khứ, hiện tại, vị lai (trạng thái siêu cảm tri giác của siêu tâm lý học (parapsychology)

3/Cuồng loạn ý thức: ý thức mất bình thường. Gồm có 3 trạng thái:

– Say rượu, uống thuốc quá liều, sử dụng những loại kích thích ma túy,..

– Cuồng: ý thức cuồng loạn, phân biệt tâm thần,..

– Huyễn: huyễn giác như sốt cao nhìn thấy màu xanh ra màu đỏ. Ngoài ra còn:

+ Do tha dẫn phát ý thức: ý thức phát khởi do năng lực bên ngoài hướng dẫn ví dụ: thôi miên, chú thuật, thần thông,..

+ Lâm chung ý thức: Phật dạy: ý thức sắp lâm chung cùng với các loại ý thức lúc bình thường không giống nhau gọi là dị thục thức (quả báo chính mùi tự nhiên sanh khởi không còn tự chủ được)

Tâm ô nhiễm của ý thức chuyển hóa thanh tịnh, không còn phiền não ô trược thành trí huệ sáng suốt như thật, thành diệu quan sát trí là tâm Phật (lấy chánh tri kiến làm đầu)

Trong các thức chỉ có ý thức mới đủ chức năng ly dục, tư duy uyên thâm, công cụ tu như thật quán chứng chân lý – quán triệt tục trí và chân trí. Các thức khác không có. Khi nó chuyển thành diệu quan sát trí thì mạt na thức cũng theo đó mà chuyển thành bình đẳng tánh trí

Ý thức rất linh hoạt, chỉ trừ 5 trường hợp ý thức không có mặt:

1/Vô tưởng thiền

2/Vô tưởng định

3/Diệt tận định

4/Ngủ say không mộng mị

5/Lúc bất tỉnh (chết giấc): nó vận hành liên tục, thời gian ngừng nghĩ rất ngắn

Thức mạt-na

1/Chức năng tác dụng:

Mạt-na nghĩa là tư lương, bản chất của nó thường hằng, suy nghĩ, tính toán đo lường không gián đoạn (hằng thẩm tư lương vi tánh tướng). Sự suy nghĩ, tính toán đo lường thì thức mạt-na siêu việt hơn so với các thức khác. Đệ bát thức A lại da cũng có tính thường hằng liên tục (hằng) nhưng không có suy xét đo lường (thẩm). Đệ lục thức (ý thức) có tính suy nghĩ đo lường (thẩm) nhưng có lúc bị gián đoạn (hằng), tiền ngũ thức không có tính thường hằng và tư lương.

Thức mạt-na trong trạng thái ngủ say, hôn mê, nhập vô tưởng định, hoặc vô tâm (vô ý thức) nó không dừng nghĩ suy lường, nó cùng A lại da đồng vận hành.

Thức mạt-na thuộc tính hữu phú vô ký (không thiện, không ác), nó không cần ý thức phân biệt, nó vẫn ở chổ thâm sâu vi tế tự nhiên vận hành.

Thức mạt-na nó làm chổ nương tựa cho ý thức sinh khởi tác dụng phân biệt (gọi là ý căn, ý xứ, ý giới)

Sự tư lương của mạt-na yếu kém hơn ý thức rất nhiều, bởi nó không hướng ra ngoài hoạt động tư duy suy xét, ngoại cảnh và cũng không phân biệt tự thân 6 thức, nó chỉ hướng về nội tại, nó luôn duyên vào A lại da làm cảnh giới.

2/Tánh ô nhiễm:

Mạt-na luôn chấp tự ngã bên trong cùng 4 loại phiền não tương ưng với nhau, Mạt-na là Ý trong tất cả thời gian, luôn chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, ngã ái, ngã si, ngã kiến liên kết chặt chẽ sâu thẩm bên trong (ý thức tự ngã) và nó cùng các loại tâm sở thiện, ác,..vô ký đồng lúc vận hành sinh khởi

Thức Mạt-na chấp thức A lại da làm ngã, như đá nam châm hút các loại sắt sản sinh và phát triền chấp ngã và ngã sở làm cho con người lấy tự ngã làm trọng tâm, như con rắn 2 đầu: 1 đầu hướng ra ngoài cũng với thức thứ 6 hoạt động, 1 đầu hướng bên trong kết hợp với thức A lại da hoạt động. Thức này thường chấp ngã và ngã ái không gián đoạn. Do đó, làm cho người chấp tự ngã và thế giới, đầu mối nhị nguyên ta và người.

Mạt-na xem là căn sinh sản vô minh, cội gốc phiền não, nhưng tính chất của nó không phải là ác, nó thuộc về hữu phú vô ký.

Hữu phú: sản sinh chấp ngã, khởi phiền não, ngăn che Phật pháp

Vô ký: bởi nó trung tanh sanh khởi chấp ngã và phiền não, tổn hại người, lợi về mình. Không phải tự nó mà phải nương vào đệ lục thức sinh khởi tạo nghiệp ác. Nó cũng khiến cho người vì lợi ích tự ngã, vì mình mà khởi thiện tâm,..Tất cả đều nhờ đệ lục thức khởi lên thiện tâm sở.

3/Những tâm sở tương ưng với thức Mạt-na:

Mạt-na tương ưng với 18 tâm sở:

– 4 món phiền não: ngã ái, ngã si, ngã kiến, ngã mạn

– 5 món biến hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư

– 1 món biệt cảnh: huệ

– 8 món đại tùy: bất tín, hôn trầm, trạo cữ, phóng dật, giãi đãi, thất niệm, bất chánh tri

4/Mạt-na là chổ nương tựa của nhiễm tịnh:

Mạt-na là then chốt nhiễm ô khiến tâm bị ràng buộc và cũng nó mà được sự giải thoát (nhiễm tịnh y)

Thức này chấp ngã dù thiện ác vô ký, lấy tự ngã làm trọng tâm. Dù làm thiện cũng khó đạt được vô phân biệt. Cầu Phật gia hộ, cầu giải thoát. Động thái nào cũng có cái ngã tiềm ẩn vi tế bên trong. Đoạn dứt nhiễm ô của Mạt-na muốn chuyển hóa nhiễm ô của thức Mạt-na, bắt đầu từ ý thức tu quán vô ngã thì đồng lúc đoạn trừ nhiễm ô. Mạt-na như gươm bén, không thể tự hại mình (ý như đao kiếm phong, bất năng tự hại tự)

Bài 9: Đệ bát thức A lại da

1/Ý nghĩa danh xưng A lại da:

A lại da: dịch là A lê da, A la da nghĩa là kho chứa. Ngài Chơn Đế dịch là vô một thức, Ngài Huyền Trang dịch là Tàng thức.

A lại da nhiều tên gọi:

– Đệ bát thức

– Căn bản thức

– Trạch (nhà) thức (ngôi nhà tinh thần của chúng sanh)

– Nhứt thiết chủng tử thức

– Dị thục thức (quả báo thức)

– Sơ sát na thức (ở trong sát na đầu tiên để hình thành sinh mạng chúng sanh)

– Thức chủ

– Trượng phu thức (năng lực thức này rất mạnh)

– Vô một thức (quán xuyến quá khứ, hiện tại, vị lai không lúc nào ngưng nghĩ)

9 tên gọi đồng nghĩa như nhau

2/Công năng tích tập của A lại da: (gọi là nhiếp tàng) thống nhiếp thân thể (căn thân) và thế giới chúng sanh nương ở (khí thế giới) chấp thọ của thức này làm căn cho sắc căn tồn tại không hư mất, khi thọ mạng hết, chuyển qua đời sau thức này dẫn dắt đi tái sanh (đầu thai)

Tàng có 3 tên: năng, sở, ngã ái

3/Những tâm sở tương ưng: như 5 món tâm sở biến hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư. Tác dụng phân biệt của nó thuộc về hiện lượng, một loại phân biệt xử lý rất mau, vận tốc cực kỳ nhanh

4/Hành tướng của A lại da, trạng thái hoạt động, đặc tính, tính chất như sau:

a/Ẩn mật vi tế khó nhận biết, nó giữ gìn, xử lý chủng tử của các thức, thường hoạt động không gián đoạn ở tận trong tâm thức, khí thế rất mạnh như sóng biển

Thấy biết sự vi tế của tàng thức chỉ có Phật, Bồ Tát kiến đạo trở lên, hàng phàm phu, thinh văn, duyên giác không biết được

b/Chẳng có, chẳng không, chẳng thường, chẳng một. Thức này giống như hư không, chẳng có chẳng không. Vì nó không hình tướng vật chất để thấy, nghe, hiểu biết. Tác dụng của thức này hiển nhiên là có

c/Thông suốt cả 3 đời, tính thường hằng và biến chuyển

Thức này từ lúc con người mới sinh ra đến lúc chết, liên tục chuyển biến không ngừng nghĩ, chức năng của nó thống nhiếp cất giữ từ sinh ra cho đến chết không sai khác. Sự vận hành không chỉ quán triệt 1 đời người mà cả 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai

Ở những trạng thái ngủ say, hôn mê, ma túy, nhập vô tưởng định, diệt tận định,..sự vận hành của 7 thức không còn nhưng thức này vẫn có mặt và khởi tác dụng giữ gìn sinh hoạt thân sinh lý. Thức này khi rời khỏi thân thì mới cho là chết.

d/Tính thuộc vô phú vô ký:

Vô phú: không ngăn che Phật đạo, tính thuộc vô vi

Vô ký: không thiện không ác, trung tính

5/Thức A lại da là cội gốc của nhiễm tịnh:

Thức này là cội gốc làm cho chúng sanh bị phiền não và các pháp hữu lậu ô nhiễm. Thức này sinh khởi thân thể các giác quan của 7 thức trước là nền tảng cho chúng sanh ra đời và tồn tại. Cũng là nền tảng sinh khởi vũ trụ thế giới (khí thế giới)

Chúng sanh bị vô minh che lấp nên không nhận rõ chân tướng của thức A lại da biến hiện thân thể và thế giới. Bị ô nhiễm của thức Mạt-na sai sử lấy tự ngã làm trung tâm sinh khởi thiện ác hữu lậu, tạo nghiệp thiện ác hữu lậu. Qua tác dụng cất giữ của A lại da, tự tạo thành tam giới lục đạo và các loại quả khổ.

Tuy nhiên, thức này cũng là nên tảng các pháp thanh tịnh, tâm thanh tịnh, Bồ đề Phật quả. Giống như lấy lửa đốt cây, lửa này cũng đốt được cây khác, do tu hành thiền quán lâu dài lần lần đốt sạch củi. Phiền não sẽ chấm dứt vòng luân hồi. Tịnh hóa tự tâm, giải thoát các khổ đau, dùng trí huệ như thật làm các nghiệp vô lậu, do thức này chứa giữ, tăng trưởng chủng tử vô lậu đến lúc tâm hoàn toàn thanh tịnh, chuyển thức thành trí. A lại thức thành Đại viên cảnh trí thành tựu quả vị Phật.

Tóm lại, 8 thức này vượt lên 3 cỏi và ngôi vị của Bồ Tát: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa

Phần này nghiên cứu thêm trong Duy thức học toàn tập của Hòa thượng Thích Thiện Hoa biên soạn