THẦN LỰC CHÚ ĐẠI BI-TARA LỤC ĐỘ MẪU

 

TÓM TẮT- ẨN DỤ

Thần chú Đại Bi do Đức Thiên Quang Tịnh Trụ Như Lai truyền trao cho Ngài Chánh Pháp Minh từ thuở quá khứ. Ngài Chánh Pháp Minh nương theo thần lực của chú Đại Bi tu tập, trải qua 15 ức căng già sa Ngài thành đạo hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai, rồi Ngài phát nguyện trải tâm từ bi cứu khổ chúng sanh. Do đại nguyện Ngài luôn quán sát nỗi khổ của chúng sanh và lắng nghe tiếng kêu khổ của chúng sanh nên Ngài ứng thân thị hiện ngay đến đó để cứu độ và được vô lượng chư Phật hoan hỷ thọ ký cho Ngài là Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài lại phát nguyện nếu còn 1 chúng sanh nhỏ bé ví như loài muỗi mà còn khổ là Ngài nguyện không vào ngôi Vô Thượng Đẳng Giác. Đồng thời Ngài lại phát nguyện chư Phật nào trong mười muôn ức cỏi, xuất hiện ra đời giáo hóa chúng sanh, Ngài nguyện làm Pháp Vương Tử trợ duyên cho vị Phật đó thành tựu mọi hạnh nguyện. Ví như Đức Phật A Di Đà thành đạo làm giáo chủ cỏi Tây Phương Cực Lạc, Ngài là Pháp Vương Tử trợ duyên. Đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo làm giáo chủ cỏi Ta Bà, Ngài cũng phân thân trợ duyên.

Lại nói về lòng từ bi cứu khổ chúng sanh của Ngài, cái khổ chúng sanh vô cùng vô tận, Ngài vận dụng lòng từ bi phải hóa ra ngàn tay ngàn mắt (Thiên Thủ Thiên Nhãn), mắt thấy chúng sanh khổ, tay Ngài cứu khổ ngay. Vậy mà cũng chưa kịp, Ngài phải vận dụng biến hiện ra trăm ngàn muôn ức thân (Vạn Ức Tử Kim Thân Tầm Thinh Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát). Như trên, hạnh nguyện từ bi của Ngài vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn.

Thần chú Đại Bi của Ngài có năng lực rất lớn, nó sẽ dẫn dắt chúng sanh từ mê đến ngộ, từ khổ đau đến an vui, từ phàm phu đến thánh quả, từ sanh tử đến Niết bàn. Thần chú ví như chiếc la bàn chỉ rõ định hướng cho những chúng sanh đang mịt mờ trong biển khổ, những kẻ lạc lối trong rừng vô minh. Nhờ chiếc la bàn Đại Bi giúp cho chúng sanh nương theo đó mà nhận được định hướng, vượt mọi cạm bẫy mịt mờ, khổ đau trên lộ trình giải thoát. Trong câu thần chú Đại Bi gồm có 10 đoạn và 84 câu (84 bộ thần do oai lực của Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện ra), nhằm mục đích hỗ trợ cho chúng sanh trong lúc lâm nguy tạm thời dùng đoạn đó, câu đó để giải quyết.

Ví dụ như người đã bị lạc lối trong rừng sâu thẳm hết lương thực, hết nước uống nhiều ngày, hôm nay được la bàn dẫn lối (chú Đại Bi) khiến hành giả thấy được 1 loại trái cây rừng ăn được, cố gắng hái ăn vào, nó tạm thời đỡ dạ trong lúc nguy kịch, hoặc khi khát nước khiến gặp được khe nước suối uống được, tạm thời uống vào giải thoát qua cơn khát để hành giả tiếp tục đi nhanh mau thoát ra khỏi khu rừng âm u tối tăm. Sự chuyên tâm vào trì tụng chú Đại Bi theo từng đoạn cũng ví như người lạc đường kia, gặp trở ngại nào sẽ tạm thời vượt qua được trở ngại đó.

Hành giả nên bình tâm suy nghiệm, trái cây, nước uống chỉ tạm đỡ dạ, đỡ khát. Đừng cố tham ăn tham uống quá độ đôi khi nó bị hại, bởi đói khát lâu ngày tham quá sẽ bị bội thực, hãy gấp rút theo la bàn mau mau thoát ra. Ra được rồi ngoài kia sẽ đáp lại đủ loại thức ăn nước uống và vật dụng…

Từ bấy lâu nay, hành giả nghe hoặc thấy thoáng qua, chưa hiểu được ý trên, rồi cố chấp cho rằng: “Trì chú Đại Bi muôn việc nhu cầu sẽ được toại ý…” rồi số người ngu si chưa nhận hiểu diệu ý, cứ miệt mài chấp vào đó để mong thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống. Vô tình biến thần chú Đại Bi hay các chú trở thành công cụ để phục vụ cho nhu cầu, mà nhu cầu đó chỉ là tạm thời, tạm bợ (ăn trái cây, uống nước suối,..)

Dẫn dụ thêm nữa, trong các pháp Hiển Mật của Phật nói ra, phần chú giải bao giờ cũng nêu lên “….ai tụng kinh, niệm Phật, trì chú sẽ được nhiều phước báu vô lượng, mọi việc trong cuộc sống sẽ được vạn sự sở cầu như ý v/v..” Phải hiểu ý trên, “đấy chỉ là cục kẹo dụ em bé” vì em bé suốt ngày chỉ ham thích ăn kẹo, mẹ bảo: “Này con ráng lo học bài, mai ra trường trả bài con được Thầy Cô cho 10 điểm hoặc mỗi tháng con đạt thành tích giỏi, mẹ sẽ ban kẹo cho con”. Từ ấy em bé vì ham kẹo cho nên miệt mài học tập, đạt kết quả, có bằng khen, Thầy Cô khen, chúng bạn khen, cha mẹ ve vuốt hết lời âu yếm ca ngợi, lúc ấy em bé rất hãnh diện thì trước đây đối với viên kẹo, bịt kẹo còn có nghĩa gì không? Cho cũng được, không cho cũng được. Như trong kinh Pháp Hoa Phật thí dụ: đàn con ham chơi trong nhà lửa tam giới, ông trưởng giả vì sợ con bị thiêu rụi trong nhà lửa liền xí gạt: “Này các con hãy mau ra đây cha rất nhiều đồ chơi nào xe trâu, xe dê, xe hưu,…” đám con nghe cha liền chui ra khỏi nhà lửa, thoát nạn khổ chết cháy,chúng rất vui mừng. Vì dầu cha không cho chiếc xe nào nhưng vẫn chưa phải phạm tội luốn dối. Thế nên, người Phật tử tu trì cũng thế, phải hiếu diệu ý của chư Phật, chư Bồ Tát do các Ngài lập ra rất nhiều phương chước để giáo hóa cứu độ chúng sanh.

Còn mọi sự khổ đau, bịnh tật, tai nạn, mua không may, bán không đắc, làm đâu thất bại đó,…tất cả đều do nhân quả, thiếu tu nhân duyên, kém cỏi phước báu của nhiều kiếp về trước. Thế nên kiếp này vừa biết hối hận, mới phát tâm tu, bảo Phật độ, Bồ Tát phải cứu, cứu độ làm sao được, “tự tác hoàn tự thọ”. Ví dụ tháng trước gieo hạt ớt tháng này bảo phải có oai lực độ cho trái ớt ngọt như dưa hấu, hãy nghĩ coi, cầu xin đòi hỏi đó có vô lý không? Tự mình gieo bắt người khác hoán đổi..nếu muốn đời sau ăn ngọt, đời này người ấy hãy tự gieo hạt dưa hấu đi. Còn không đời này phải chấp nhận ăn cay, bởi nhân đời trước gieo hạt ớt. Phật tử chân chánh phải hiểu ý này, không khéo thối thất đạo tâm, cho rằng Phật không linh, Phật pháp không mầu nhiệm, bị đọa “nhất xiểng đề”.

Lời dẫn dụ trên đây là “Thiền”, do vậy ý phải tư duy quán chiếu. Nếu thiền quán thấu triệt rồi thì áp dụng các pháp môn Tịnh độ, Mật tông tất nhiên đạt kết quả, bởi tâm thức không mê lầm, không vọng tưởng, không điên đảo.

 

TARA LỤC ĐỘ MẪU

I.Tổng quan:

Hành giả tu trì Lục Độ Mẫu phải hiểu và áp dụng đúng phương pháp. Tara là vị thần, tên Tara là giọt nước mắt do Bi Nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm thương xót chúng sanh mà rơi giọt lệ hóa thành 21 Độ Mẫu để cứu độ chúng sanh, lục là màu xanh của nước vì thế mà gọi chung là Lục Độ Mẫu tức vị mẹ hiền cứu độ có thân hình màu xanh của nước. Trong Độ Mẫu có rất nhiều màu sắc xuất phát từ ngũ lực của Đức Quán Thế Âm nhưng màu xanh là màu chủ lực, bởi màu xanh tượng trưng cho “định lực” (xanh) (Tara xanh) để dần đến “tấn lực” (trắng) – “niệm lực” (vàng) – “tín lực” (đỏ) và “tuệ lực” (cam). Hành giả tu trì Lục Độ Mẫu (Tara xanh), trước tiên phải quán chiếu Bạch Tara (Tara trắng) vì màu trắng là màu “tấn lực”, phải có “tấn lực” an trụ trong thiền định để nhập vào “Ngũ Đại Hư Không Tạng” (Quán Thế Âm còn có tên là Ngũ Đại Hư Không Tạng Bồ Tát).

Ngũ Đại Hư Không gồm: 1/Không đại. 2/Địa đại. 3/Thủy đại. 4/Hỏa đại. 5/Phong đại. Vì vũ trụ, nhân sinh nói chung, vạn vật và các pháp đều từ trong tánh của Ngũ Đại mà hình thành ra hình tướng cho đến khái niệm. Mà trong Không đại (Hư Không) nó tổng gồm cả 4 đại: đất, nước, gió, lửa. Đơn cử, trong Hư Không vẫn có địa đại là bụi hư không (gọi là vi trần) rất nhiều, nếu tính trọng lượng nó nặng gấp nhiều lần địa cầu. Trong Hư Không có thủy đại không? Có bởi trong hư không dung chứa 1 lượng H2O rất lớn. Trong Hư Không lại có 1 nhiệt lượng (hỏa khổng lồ) (hợp duyên thành tia sét) cực mạnh. Và Hư Không cũng có sự chuyển động (phong đại) cực kỳ mạnh bạo, tạo thành cuồng phong bảo tố.

Trên đây là vũ trụ tướng, nhân sinh tướng (nói chung là vạn vật) sinh tồn cũng phải kết hợp của Ngũ Đại mà hình thành. Ví dụ trong con người từ đất (xác thân), nước (máu,dịch,mồ hôi, nước mắt,..), gió (hơi thở, oxy trong máu vận hành), lửa (nhiệt lượng trong cơ thể), hư không (không khí bao che) v/v..cho đến cỏ cây, vạn vật,…thảy đều xuất phát từ Tánh của Ngũ Đại Hư Không nó mới có Tướng trạng để cho Ta (ngã tướng) khái niệm và đối đãi (Nhân + Chúng Sanh + Thọ Giả)

Tóm lại, Hư Không Tạng là một thể tánh bao trùm khắp pháp giới, Bồ Tát Quán Thế Âm nhập được Pháp Giới Thể Tánh ấy, có tên là Ngũ Đại Hư Không Tạng, 10 phương 3 đời chư Phật từ Pháp giới thể tánh ấy mà thành tựu quả vị Đẳng Giác. Tức vượt qua Đại Viên Cảnh Trí (do thức A Lại Da chuyển thành) rốt ráo của thức A Đà Na (Bạch Tịnh Thức) chuyển thành Pháp Giới Thể Tánh Trí.

II.Phương pháp hành trì:

Trước tiên quán chiếu Bạch Độ Mẫu như trên đã nói. Bạch là màu trắng biểu tượng cho “tấn lực”.

1.Các bước khởi đầu:

1/Giai đoạn 1:

Hành giả vào Đàn (bàn Phật chổ mình tu trì hằng đêm) vô đầu cũng y như Nghi quỹ trước đây. Khi phổ lễ Tam Bảo xong chuẩn bị ngồi xuống, nhìn vào chổ ngồi (có nệm bồ đoàn) đọc bài kệ:

Nhược phu sàng tọa, đương nguyện chúng sanh

Khai phu thiện pháp, kiến chân thật tướng

(Kiết ấn đăng bảo tọa quán chữ Lam phóng xuống)

Bước lên ngồi ngay thẳng đọc chú

Chánh thân đoan tọa, đương nguyện chúng sanh

Tọa bồ đề tòa, tâm vô sở trước

Kiết ấn tam muội hoặc ấn định tâm để vào lòng chổ ngang rốn, bắt đầu khép đôi mắt lại đừng kín lắm cũng đừng hở lắm (hám mục trừng thanh) rồi:

“Thở ra nghe trong hơi thở có âm thanh Úm A Di Đát Phạ, xong hít vô nghe hơi thở có âm thanh Hật rị xóa ha”.

Hoặc

“Thở ra nghe hơi thở có âm thanh A Di Đà, xong hít vô nghe hơi thở có âm thanh Phật”.

Kiểm soát hơi thở ra vô 1 cách điều hòa, không gấp cũng đừng chậm quá (chậm hay nhanh quá đều tạo cho ta bị mệt). Làm liên tục khoảng độ chừng 5 đến 10 phút tùy nghi. Như vậy sẽ giúp cho thần trí của ta hoàn toàn an định.

2/Giai đoạn 2:

Mở mắt ra nhìn vào chủng tử Bạch Độ Mẫu (nếu hành giả nào đã quen mặt chữ chủng tử rồi thì không cần mở mắt mà  chỉ nhắm lại, hình dung chủng tử lộ hiện trước mặt 1 cách rõ ràng, màu sắc gì cũng được). Bắt đầu thầm đọc câu chú Bạch Độ Mẫu:

“Án đa liệp, đốt đa liệp, đốt liệp, mạ mạ, a dụ, bố liệp, dạ da, phất tô lộ rô, tóa ha”

Trì độ 3 hơi, 7 hoặc 21, 49 hơi tùy nghi hoặc độ 5,10 phút gì cũng được.

3/Giai đoạn 3:

Tất cả trên đây là thiền quán (pháp quán nương theo kệ chú và hành trạng để chế tỏa tâm vọng động, tâm suy tư điên đảo). Suốt 1 ngày làm việc, tâm duyên không biết bao nhiêu phiền chướng, thân tiếp xúc không biết bao nhiêu việc tháo vát, tiêu hao năng lượng không kể xiết. Thân tâm không lúc nào dừng trụ, cũng chỉ cho cái giả dối, tạm bợ như trẻ thơ thích thú nô đùa với bong bóng cho đến khi vấp ngã u đầu toét trán òa lên khóc, lúc đó thân đã vướn đầy thương tật, đau đớn vô cùng, buông ra rồi vẫn tiếp tục nô đùa với bong bóng nữa (bởi trẻ thơ vô trí không kiên định tâm trí, không nhận định giả và chơn, chấp thật ngã, thật pháp,…chúng sanh là như vậy).

Bây giờ, sau 2 giai đoạn thực hành như pháp trên. Chú ý nếu thân tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh, hành giả làm lại theo giai đoạn 1đến khi cảm thấy tỉnh lặng (thanh tịnh) rồi sang giai đoạn 2, quán mẫu tự chủng tử trì chú Bạch độ mẫu, cho đến khi nào cảm thấy tỉnh lặng 1 cách thuần thục không có cảm giác vọng niệm, móng tưởng. Chừng đó chúng ta sẽ sang qua giai đoạn 3 này. Không nên tham cầu mong cho mau đạt, để chứng tỏ “ta đây tu đạt rồi” tự tôn ngã và ngã sở. Chổ này giống như nọc rắn độc loan tỏa trong giòng máu cuối cùng bị nghẽn tim mà chết. Pháp thiền gọi là loạn thiền hoặc tẩu hỏa nhập ma. Hành giả phải nhận thức phương pháp này 1 cách chính chắn, rủi sơ hở “Sai chi hào ly, thất chi tu du” (sai một hào ly, trớt đi ngàn dậm). Hơn nữa Phật kể lại quá trình tu hành của Ngài: “…mỗi 1 kiếp tu của ta ví như 1 hạt cát, từ lúc ta phát tâm tu hành cho đến nay ta thành vô thượng đẳng giác, số kiếp (hạt cát) ấy gôm lại cao như núi Tu Di…” Vậy khuyên hành giả phải hiểu rõ ý Phật nói trên, đừng quá tham cầu, cũng đừng quá lôi thôi (giải đãi) đường tu phải “tiệm tiệm nhi tiến” (dục tốc bất đạt, giải đãi nan thành)

2/Bắt đầu đi vào thiền quán:

1/Giai đoạn 1:

Trước hết ta phải tìm thấy (soi) Tâm – Ý – Thức nó hiện hành và duyên khởi như thế nào về ngũ căn, ngũ trần (mắt – tai – mũi – lưỡi – thân  căn) nó tiếp xúc với trần: sắc –thinh – hương –vị – xúc do đâu mà căn và trần nó nhận biết phân biệt (Thức). Đó chính là từ ý (thức) tức thức thứ 6. Nếu không có thức thứ 6 (ý) này xen vào để khởi phân biệt thì mắt chỉ là căn, trần chỉ là trần (sắc). Khi có ý thức xen vào thì 5 căn trở thành 5 thức.

Vậy, phần tiền ngũ thức này trong 1 ngày hành giả có nhiếp chế dừng lại, có tạp loạn hay không tạp loạn? (việc gì cần thấy nên thấy, chuyện gì đáng nghe nên nghe v/v..) đùng cho thứ gì cũng lưu tâm (để ý) phân biệt, đưa vào kết thành chủng tử (A lại da). Hành giả tu tập cho thuần hóa làm chủ được 5 thức ngoài, chặn đứng được ý thức không để khởi ra phân biệt, 5 thức ngoài nó chuyển qua Thành Sở Tác Trí lúc đó đạt được cảnh giới Đệ Nhất Thiền.

2/Giai đoạn 2:

Trong thời gian tu tập nhiếp chế 5 giác quan ngoài, đương nhiên ta kiềm tỏa được ý thức sinh khởi, trong giai đoạn này hành giả khởi phân biệt vũ trụ và các pháp, tất cả đều trải qua cho ta một khái niệm vũ trụ và các pháp là thật có (thật cảnh). Thông thường cho là ý thức khái niệm nhận biết nhưng ý thức (thức thứ 6) nếu không có gì làm căn cho nó để nó duyên pháp trần thì ý thức chỉ là trống không mà thôi (vô tư) nhưng nó phân định được nó phải nhờ thức mạt na (thức thứ 7) làm căn để nó dựa vào đó mà khởi ra phân biệt các pháp. Núi là phải thế này, sông phải thế này, cây phải thế này, thiên hà vũ trụ phải thế này v/v…rồi tự nó gắn cho các vật 1 tên để xưng gọi. Chứ các pháp bản lai của nó đâu có tên gọi. Tất cả đều do ý thức nương tựa cùng mạt na thức mà có danh tướng, khi đã gắn có danh tướng nó cho là thật có (chấp pháp) pháp trần.

Đến đây hành giả dừng lại mỗi khi ý thức gợi lên 1 nhận định, 1 khái niệm về đối đãi với một trong các pháp, đừng cho nó tiến sâu thêm. Lúc bấy giờ giống như “tâm trống không”. Tức là cách ly giữa thức mạt na (thứ 7) và ý thức (thứ 6) không để cho thức mạt na duyên vào kiến phần của A Lại Da (thứ 8) chấp thật pháp thật ngã. Hành giả muốn tịnh không chổ này phải tự đặt câu hỏi: núi là cái gì? gồm có đá, đá là cái gì? nhô lên, nhô là cái gì mà lì xuống là cái gì, tất cả là giả danh tự ý thức đặt để chứ bản lai của nó không có núi, đá, nhô cao, lì xuống gì cả. Tức trở về “tự tánh bổn không” À! À!

Đến cảnh giới tịnh không này, coi chừng nó Chấp Không (phá được chấp có nó lại trở về Chấp Không vô cùng nguy hiểm). Dừng trụ được chổ này sẽ chuyển thức thứ 6 (Ý thức) thành Diệu Quán Sát Trí lúc đó đạt được cảnh giới Đệ Nhị Thiền.

3/Giai đoạn 3:

Trên đây hành giả thiền định quán tưởng đến lúc nào đó, điều khiển được vị tể tướng cầm quân (Thức) ý thức. Không còn xuất quân thiếu chiến thuật chiến lược được, biết rõ địch quân Căn + Trần nó len lỏi trong nội tình, hoặc trú ngụ ở đâu…chắc chắn “Ca khúc khải hoàn”

Tu tập giai đoạn kế tiếp, hành giả phải quán chiếu (thiền định) Mạt Na Thức (thức thứ 7) nó là trung gian giữa 6 thức ngoài và thức thứ 8 (A Lại Da) bên trong nó duyên kiến phần của thức thứ 8 để chấp Ngã. Hành giả nhận rõ thức điểm này, nó như vị thượng thư sắp xếp việc tổ chức trong thiền định, bởi Ngã Pháp hình thành cũng từ nó. Như trên hành giả đã hiểu, nghĩa là Ý thức (thứ 6) duyên các pháp bên ngoài phải lấy thức thứ 7 (Mạt Na) làm căn cho nó, nó mới khởi ra phân biệt là pháp trần. Từ đó thức Mạt Na chấp pháp trần là thật có, rồi nó đưa vào A Lại Da (thứ 8) kết thành chủng tử (giữ pháp cảnh đó không cho mất). Vậy pháp trần tạm ví dụ mọi cơ cấu, sinh hoạt, xã hội bên ngoài trong 1 quốc gia dưới sự sắp xếp của thức Mạt Na (thứ 7) là vị quan nhiếp chính (thượng thư). Một khi có các pháp thì các pháp từ đâu mà có danh xưng? Từ Ta đặt để nó ra, thế là thức Mạt Na chấp cái Ta (ngã chấp) là thật có. Rồi nó kết hợp cùng 6 căn, 6 trần, thành 6 thức đồng khởi ra phân biệt như: nước chảy, mây bay, gió lay, cây động, buồn vui, sướng khổ, như ý, không như ý, động tịnh v/v…mà hình thành 51 món tâm sở, 11 sắc pháp, 24 bất tương ưng, 6 vô vi,..đều từ bộ phận lãnh đạo (8 thức tâm vương) mà ra.

Tu thiền định phải thường soi thường chiếu, sự manh nha của 7 thức nói trên để chặn lại không cho biến dịch sanh khởi. Nhất là thức thứ 7 (Mạt Na) không để nó duyên kiến phần của A Lại Da chấp làm thật ngã, không làm căn cho thức thứ 6 (ý thức) chấp làm thật pháp. Khi ngã, pháp đều không thì thức thứ 7 (Mạt Na) chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí đạt cảnh giới Đệ Tam Thiền.

4/Giai đoạn 4:

Hành giả khi đã nhiếp chế được 1 thức ngoài và 2 thức trong không còn sanh khởi thì sang qua thức thứ 8 (A Lại Da). Thức A Lại Da có tên là tạng thức hay chủng tử thức. Thức này là cái kho chứa cất và gìn giữ, nhập và xuất, mỗi khi các thức ngoài cần, nó khởi ra hiện hành (xuất) mọi sự thu thập các pháp nó (nhập) vô kết thành chủng tử, bảo quản không hư mất. Trong kho chứa này nó chứa cả thiện lẫn ác và vô ký

Từ vô lượng kiếp đến nay, tập khí chủng tử không lớp lang thứ tự (phiền não) nó âm u (vô minh). Hành giả tu tập trước tiên phải thiền định quán tưởng 5 thức ngoài nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn. Nó vẫn tiếp xúc với sắc, thinh, hương, vị, xúc trần. Đó chỉ là phù trần căn, đừng để thức thứ 6 (ý) chen vào phân biệt nếu ý thức chen vào phân biệt nó sẽ ban giao với thức chấp pháp (Mạt Na) phối hợp cùng thức A Lại Da kết thành chủng tử. Một khi kết thành chủng tử, thì cái thấy, cái nghe, cái ngửi (mùi), cái nói (vị nếm) và tiếp xúc…các pháp ấy nó không mất mà còn phân biệt 1 cách tinh tế hơn gọi là tịnh sắc căn. Đấy chính là Nhân sản sinh ra Quả phiền não. Nó luôn ầm ỉ trong tiềm thức A Lại Da (thứ 8) mà phiền não loạn xạ từ vô lượng kiếp là Nhân kết thành Quả vô minh. Một khi thức Mạt Na chấp các pháp để nhận thức là thật có. Khi ấy thức Mạt Na tự đặt lại vấn đề pháp từ đâu mà có? Nó mới duyên kiến phần của A Lại Da làm chủ thể là Chính Ta. Ta mà nhận biết các pháp, thế là Chấp Ngã.

Trên đây là giai đoạn đầu để cho người tu thiền thực tập phương pháp cơ bản nhất đạt được chổ này 5 thức ngoài chuyển qua Thành Sở Tác Trí. Xong phần trên người hành thiền quán chiếu sâu thêm chút nữa là đoạn trừ các Hoặc Lậu, chúng gồm tư hoặc và kiến hoặc, trong đó:

a/Tư Hoặc: là căn bản của phiền não như: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. 5 món này nó xuất phát từ Ngã và Pháp  do 3 thức trong (Ý – Mạt Na – A Lại Da) gặp thuận duyên hoặc nghịch duyên mà cấu kết thành 51 món tâm sở hữu pháp mà căn bản phiền não là nằm trong 51 món tâm sở, tạo thành hoặc nghiệp

b/Kiến Hoặc: gồm Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ và Giới Cấm Thủ.

Như trình bày trên hành giả đoạn trừ được kiến hoặc, tư hoặc xong nó còn trần sa hoặc. Trần sa hoặc này ở địa vị tiểu quả A La Hán nó mới khó đoạn, khó vượt qua. Bởi thấy chúng sanh nghiệp chướng quá nhiều như trần sa (bụi vi trần) nên các Ngài không dám cứu độ mà vội vào Niết bàn. Cho nên trần sa hoặc khó đoạn là ý trên đây.

Chính do kiến hoặc, tư hoặc mà tạo thành vô minh hoặc. Tất cả đều từ 8 thức tâm vương cùng 51 món pháp sở hữu, 11 sắc pháp, 24 bất tương ưng và 6 món vô vi. Khi 92 món: 51 món tâm sở + 11 sắc pháp + 24 món bất tương ưng + 6 pháp vô vi không còn kết hợp với 8 thức tâm vương, lúc bấy giờ pháp chấp cùng ngã chấp đều lắng đọng. Tuy đạt được phá ngã và pháp nhưng bên trong vẫn còn bóng dáng của kiến phần A Lại Da do đó vẫn còn vi tế của ngã tướng bởi nó còn nhìn thấy sắc thân tứ đại cho là Ta và khởi niệm tham sống sợ chết….gọi là còn ngã tướng. Một khi ngã tướng (Ta) chưa đoạn trừ đương nhiên đối đãi lại lòng còn ghét thương, còn phân biệt không bình đẳng tức là có Nhân Tướng ý tưởng lúc bấy giờ còn theo cái ham muốn của phàm phu dẫn dắt mà không cầu giải thoát. Là còn kẹt vào Chúng Sanh Tướng, một khi Tâm Thức chưa diệt trừ, nghiệp và chướng còn dấy động. Chẳng ngộ được pháp vô sanh và chân không thật tướng. Thường theo Tâm Cảnh của ý thức dẫn dắt gọi là còn Thọ Giả Tướng. Hành giả tu thiền, quán chiếu đạt đến tứ tướng hoàn toàn không thật tướng, lúc bấy giờ đạt đến Bình Đẳng Tánh Trí, bởi 4 tướng từ ngã và pháp của thức mạt na mà có, khi tướng phá rồi thì tự tánh Bình Đẳng lộ hiện.

Bước sang quán chiếu về thức A Lại Da, là thức chủng tử chứa đựng các pháp, người tu thiền phải Bế Quan. Lưu ý, bế quan ở đây không đồng nghĩa (đóng cửa nhập thất, vào chốn hang sâu cùng cốc mà ngồi lim dim…) mà nơi đây hành giả đóng cửa A Lại Da (cửa tâm) không để cho các pháp nạp vào và cũng không để chủng tử của các pháp khởi ra hiện hành. Hoàn toàn vắng lặng để kiểm nhiếp lại (giống như đóng cửa kho, không thu không xuất để sắp xếp thứ tự đồ vật ngổn ngang mà vô lượng kiếp đến nay chồng chất vô trật tự). Ý đây gọi là:

Tham Thiền (trở về) Tham Tánh (gọi là) Tánh Tham Thiền.

Niệm Phật (phải ) Niệm Tâm, (ấy là) Tâm Niệm Phật.

Gọi là bế quan Tham Thiền, bế quan Niệm Phật v/v.. chính là dừng trụ ở chổ này gọi là Chân Như Nhứt Thể, cần có là có tất cả, cần không là không tất cả (chân không diệu hữu, diệu hữu chân không), tròn đầy pháp tướng, pháp tánh, trở về bản lai diện mục chuyển thức A Lại Da (Tâm) thành Đại Viên Cảnh Trí đạt cảnh giới Đệ Tứ Thiền. Hành giả cần quán sát thật kỹ. Khi nghe nói rằng: Quán Công Án. Công Án là gì? Công án là Tâm (A Lại Da), Ý (Mạt Na) và Thức (Ý thức). Tất cả ngã và pháp đều do 3 anh này giả định mà có ví dụ: ta là ai? gió lay, cây động,…nhận được công án này, Ta nó có thật có hay không? hay do Tâm + Ý + Thức ? Gió có lay, cây có động hay không?  hay do Tâm + Ý + Thức ? Vậy Công án có nghĩa là hỏi và đáp. Mà hỏi và đáp cũng từ Tâm + Ý + Thức vì thế trong ý thiền:

“Ngộ Phật sát Phật, ngộ Tổ sát Tổ”

Bởi Phật, Tổ cũng từ Tâm + Ý + Thức giả định mà có cho nên phải đoạn diệt Tâm + Ý + Thức (sát).

Thoại Đầu Thiền, cũng có nghĩa hỏi và đáp có đối đãi (nhị nguyên) có xuôi thuận, có lật ngược v/v.. Tất cả cũng từ Tâm + Ý + Thức mà nhận thức khái niệm. Một khi nó dừng trụ Tâm + Ý + Thức để chờ đợi nhận thức và khái niệm lúc bấy giờ: 1 cây thiền trượng nện lên lưng, vấp cục đá toét móng chân, chiếc lá vàng rơi hoặc 1 tiếng hét v/v..tự dưng Hoát Nhiên Đại Ngộ. Bởi trước đây (vô lượng kiếp) do Tâm + Ý + Thức giả lập mà ngã và pháp giả có. Nay quán chiếu Công án, thoại đầu mà bừng ngộ trở về với chơn như thật tướng của các pháp.

Tóm lại, thiền giả tu trì trước tiên phải áp dụng Duy Thức Quán đại lược nói trên cho thật thấu suốt. Ví như vị tướng cầm quân diệt giặc, phải rành rẽ chiến thuật, chiến lược, trú ngụ của quân địch…vị tướng ấy tất thắng (thành công) còn ai chưa thấu suốt Duy Thức Quán, thì cơ mưu diệt giặc (giặc phiền não, giặc sở chấp) bại lộ chỉ là sát quân mà thôi. Quán chiếu 100 pháp cơ bản này thì ta thấy rõ: mê cũng từ đây mà có ngộ cũng từ đấy mà có, phiền não hay bồ đề sanh tử hay niết bàn cũng từ đấy mà có. Nói chung vũ trụ, chúng sanh, đều từ ý thức phân biệt mà hình thành, tâm tạo tác mà ta cho rằng hiện có (hiện hữu) khi 8 pháp tâm vương dừng trụ rồi thì các pháp chỉ còn là thể tánh của chơn không. Đứng góc độ khái niệm thì chơn không này không phải là không không vì trong không nó có cái có

Như Bồ Tát Quán Thế Âm chứng ngộ được Ngũ Đại Hư Không Tạng, Ngài trở về thể tánh của chơn tâm và các pháp, 10 phương chư Phật cũng nhập vào thể tánh ấy gọi là Tỳ Lô Giá Na thẳng vào hoa tạng huyền môn:

“Tứ sanh cửu hữu, đồng đăng hoa tạng huyền môn

Bát nạn, tam đồ cộng nhập Tỳ Lô Tánh Hải”

Tỳ Lô là pháp tánh, Giá Na là sự lý viên dung, tánh tướng nhất thể. Hành giả tu thiền như trên trình bày phải áp dụng Duy Thức Quán trước nhất, từ ấy ta mới có 1 nhận thức để tu trì, hành giả nên nghiên cứu bộ Đại Thừa Bá Pháp của HT Thích Thiện Hoa để trên đường tu mình phải trải qua tứ gia hạnh vị, thập địa, thập hạnh,v/v.. hoặc thẳng vào (trực chỉ) chơn tâm (nhơn tâm) kiến tánh thành Phật. Nhận rõ Tâm ở đâu? Tánh ở đâu? để ta trực chỉ và thấy nó. Và cả tâm lẫn tánh đều buông bỏ, lấy phương pháp gì để buông bỏ….xin hành giả lưu tâm những gợi ý trên.

QUÁN NGŨ ĐẠI HƯ KHÔNG TẠNG

BẠCH ĐỘ MẪU TARA TRẮNG

Y như nghĩ quỹ giảng lần trước, hành giả phải rửa tay, mặt, tắm gội, đăng đàn v/v…

– Đọc kệ trải bồ đoàn (chổ ngồi)

– Đọc kệ sửa mình ngồi ngay thẳng

– Chú tịnh tam nghiệp

– Thở ra hít vào đều hòa nương theo câu “Úm A Di Đát Phạ, Hật Rị Xóa Ha” hay “A Di Đà, Phật” độ khoảng 5 đến 10 phút cho thân tâm hoàn toàn tỉnh lặng. Lúc bấy giờ hành giả mở mắt ra nhìn vào chữ chủng tử Bạch Tara (vẽ vào) trì chú Bạch Độ Mẫu (đã có tài liệu trước đây) từ 3,7,21,49 biến hoặc hơi.

Nếu hành giả đã nhận rõ chữ mẫu tự chủng tử thuần rồi có thể nhắm mắt quán chữ hiện lên cũng được. Rồi hành giả xoa 2 lòng bàn tay cho ấm vuốt từ tam tinh (chổ giao đỉnh chân mày) ra 2 màn tan và vuốt thẳng xuống cạnh hàm (3 lần)

1/Bắt đầu Quán:

Trước khi quán, hành giả cần nhận rõ lời giảng này:

Hư Không là thể tánh bao la, không sờ mó, thấy được nó bao trùm cả vũ trụ, chỉ do ý thức khái niệm. Trong hư không nó dung chứa cả 4 đại:

1/Địa đại (đất) là vi trần (bụi) không gian không thể đong đo, cân, lường được vô cùng vô tận mà hư không vẫn chứa đựng (tạng) nên gọi là hư không tạng

2/Thủy đại (nước) là oxy trong không khí cũng không đo lường được (thể tích nước cần hợp lại nó tạo ra lượng nước khủng khiếp)

3/Hỏa đại (lửa) nhiệt lượng của không gian cũng vô cùng tận. Nếu hợp duyên những tia điện phóng ra vô cùng mạnh mẽ (mấy trăm triệu vol)

4/Phong đại (gió) sự chuyển động của hư không tạo nên lực gió kinh hoàng

4 đại đều từ trong hư không chứa đựng (Tạng). Như vậy từ thể tánh của hư không nó biến hiện ra vô số thái dương hệ (nhựt nguyệt tinh tú) với ý thức thường không thể nghĩ bàn. Tất cả hiện tượng vũ trụ đều cùng 1 cơ bản: Đất- Nước – Gió – Lửa cùng nhân duyên mà hình thành. Sự hình thành ấy không ngoài Tâm – Ý –Thức mà tạo thành vũ trụ tướng (Viên Minh Nhứt Điểm Bổn Phi Không), chỉ cần ý thức lóe lên 1 điểm (ý thức là điểm viên minh) từ gốc chẳng phải không mà cũng chẳng phải có. Nếu ý thức dừng trụ là không, ý thức khởi niệm là có. Cho nên tạm dùng từ là Hư Không (Hư Vô) là đại thể của vũ trụ tướng (còn gọi là các pháp)

Tiểu thể của Ngũ Đại Hư Không Tạng như con người cũng phải từ ngũ đại mà hình thành như xác thân là Đất. Mồ hôi, nước mắt, máu là Thủy. Hơi thở, oxy chuyển động trong thân là Gió. Nhiệt lượng trong cơ thể là Lửa. Tất cả chúng hòa hợp cùng hư không nó mới tồn tại con người. Nói chung vạn vật ví dụ: cây cối vẫn dung hợp từ ngũ đại: đất là thân cây, gió là tế bào oxy, lửa là nhiệt lượng trong cây

“Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hỏa phục hoàn sanh

Nhược dị mộc vô hỏa

Tảng thoại hà do manh”

Và nước trong thân cây phải có nó mới sinh tồn và tăng trưởng 4 đại của cây cũng phải có khoảng hư không v/v.. Tiểu thể của ngũ đại do ý thức tách ra mà nó có các pháp, mà có các pháp là có sanh diệt.

Ngài Ngũ Đại Hư Không Tạng Bồ Tát là danh hiệu của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Quá khứ vô lượng kiếp Quán Thế Âm tu chứng được Lục căn viên thông, Ngài dùng Diệu Quán Sát Trí biết rõ các pháp từ ý thức sanh khởi, Ngài chứng nhập được thể tánh của Ngũ Đại, trở vào đồng thể của Tỳ Lô Tánh Hải, Ngài được danh hiệu Ngũ Đại Hư Không Tạng Bồ Tát làm nền tảng trợ duyên cho 3 đời chư Phật thành tựu vào hoa tạng thế giới Tỳ Lô Giá Na.

Tóm lại pháp tướng của vũ trụ và các pháp nếu nói lớn là nó rộng lớn bao la, cho nên Đức Thế Tôn luận giải về vũ trụ hằng hà sa thế giới, Ngài chỉ cầm lấy 1 hạt cát nhỏ, Ngài nói: “Với Phật nhãn của Như Lai thấy hạt cát là nó chứa đựng 1 Đại Thiên thế giới, đâu cần đi hết mới biết hay sao! Nên gọi là Như Lai Tạng Tánh. Tạm lược giảng nêu trên, hành giả tu trì đọc kỹ và từ từ tra cứu thêm để nhận biết thấu đáo mà hành trì.

2/Bắt đầu đi vào Thiền định:

Giai đoạn 1: Quán hơi thở, thở ra hít vào (Phong Đại) tâm thật tĩnh lặng, nhẹ nhàng, nghe làn khí từ trong lưu chuyển ra ngoài hòa vào hư không vô tận. Ta tự hỏi: ủa hơi thở vừa tuông ra của ta, bây giờ nó ở đâu? hãy trả lại làn hơi ấy cho ta? hành lặng lẽ, lắng nghe làn hơi chuyển động về đâu…chổ này để hành giả quán chiếu rồi tự trả lời. Lúc hít hơi vào, từ từ lắng nghe Phong Đại chuyển động vào buồng phổi, tự hiểu ủa phong đại này từ đâu chui vào làm cho cái Ta nghe thoải mái quá vậy? Vậy hơi trước đi về đâu? và hơi này từ đâu đến? Đến bao giờ ta tầm được hơi trước của ta để ta xin (lấy) lại (Hoàn lai bản vị). Chổ này để hành giả quán chiếu thật kỹ rồi tự trả lời.

Đây là công án cơ bản cho thiền giả bước đầu thực tập thiền, công án trên đây dụ như công thức, thước đo, la bàn, bản đồ,…để người hành thiền giải mã (Tổ sư thiền, quán niệm hơi thở).

Lưu ý: Hành giả quán niệm về phong đại, như trên đã cho lóe ra Ngũ Đại Hư Không Tạng. Một lúc nào đó nó giải mã được rồi. Nên nhớ phải lấy cái chân thật trí mà tỏ ngộ, chẳng nên áp dụng thế trí phàm phu mà cho là tỏ ngộ. Chổ này coi chừng vướng ngã tướng cầu danh tướng, cầu sở chứng kẹt trong sở tri chướng, lạc vào ngoại đạo. Muôn kiếp người ấy không bao giờ chứng ngộ được chân thật tướng

Giai đoạn 2, giai đoạn 3, giai đoạn 4: tức là quán niệm về thân là đại địa, máu, mồ hôi, oxy là thủy đại, nhiệt lượng trong cơ thể là hỏa đại v/v..cũng quán chiếu như phong đại nêu trên.

Hành giả cứ tu trì miên mật, đừng mong cầu giải mã công án, cứ giữ tâm thanh tịnh quán chiếu đến lúc nào đó tự khắc ngộ được hoặc nhân duyên bất chợt chỉ 1 câu thoại đầu, hoặc bị đụng đầu vào cột nhà,…biết đâu nó sẽ Hoát Nhiên Đại Ngộ. Khi thiền quán, tùy vào thời gian và sức khỏe, không nhất thiết giờ khắc, xong tụng bát nhã, hồi hướng, tự quy y. Cần chú ý:

a/Nếu có đàn pháp (bàn thờ Phật) thì chia thời khóa riêng biệt. Ví dụ: đầu hôm từ 6,7,8 giờ tụng kinh, niệm Phật, trì chú tùy nghi.

b/Thiền quán Ngũ Đại Hư Không Tạng. Theo nghi pháp hướng dẫn trên vào giờ tương đối yên tịnh, khoảng 10,11,12 giờ đêm

c/Khuya từ 4,5 giờ trước bàn Phật y theo nghĩ quỹ tụng kinh, trì chú….xong xã hơi 1 chút trở lại thiền quán Ngũ Đại Hư Không Tạng (như giấc đầu hôm) xong thể dục, tiểu thực, sinh hoạt,…

d/Nếu nhà yên tịnh thì thiền quán Ngũ Đại Hư Không Tạng. Nếu nhà sinh hoạt rộn ràng, quên thì thôi, nhớ hít thở bằng câu A Di Đà – Phật

Tóm lại, ba pháp môn, Thiền – Tịnh – Mật, Phật và Chư Tổ định chế ra, mà Phật Giáo Đại Thừa tại Việt Nam, đã ứng dụng từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến nay. Trong pháp môn Tịnh độ cần kèm theo Thiền và Mật (tụng kinh trì chú) trong Mật cần phải có thiền để quán. Trong thiền vô đầu tiên, cần trợ lực (mật) để tịnh tam nghiệp chú kiết già, chú trải tòa (bồ đoàn) v/v.. rồi đến quán tưởng 8 thức để nhiếp chế (trói) tâm lần lần đến trụ tâm, rồi buông tâm (ưng vô sở trụ) đó là định hướng để hành thiền (định hướng là chổ tạm nương gọi là Tịnh độ).

Ba pháp môn này như kiềng 3 chân không thể thiếu. Như cầu + vịn + người dìu dẫn thiền môn định chế nghi thức tụng niệm từ xưa đến nay. Vào thời kinh vô đầu tụng Đại Bi (Mật) tụng các kinh….mọi hành nghi là (Tịnh độ), sau cùng để kết thúc phải tụng Bát nhã tâm kinh là Thiền có bao giờ lìa 1 trong 3 này không? Chỉ từ trạch pháp để chuyên tu hoặc thiền, hoặc tịnh độ, hoặc trì chú (mật) nhưng bao giờ cũng gắn kết 3 yếu pháp. Tu hành muốn vững vàng, an lạc trong việc tu trì phải đầy đủ như bửa cơm, cơm không cũng không được, canh không cũng không được, kho mặn không cũng không được, cần phải hội đủ cơm + canh + kho nó mới giải quyết cái no sung túc (hàm lượng) lúc đó đạt đến chổ tự tại vô ngại và an lạc.

(Biên soạn HT Thích Nhật Quang)

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.