TÓM YẾU BA PHÁP MÔN THIỀN-TỊNH-MẬT

BÀI GIẢNG TÓM YẾU ẨN DỤ BA PHÁP MÔN

THIỀN – TỊNH – MẬT

Đức Phật ra đời mục đích cứu khổ và chỉ cho chúng sinh thấy được trí huệ, tri kiến của Phật.  Đức Phật nói ra vô lượng vô số pháp môn để trị vô lượng tâm bệnh của chúng sinh, nói theo số lượng có 84.000 pháp môn vô lậu để điều trị 84.000 căn bệnh của chúng sinh, tựu trung lại thành 3 tạng kinh điển. Giáo pháp của Như Lai rộng sâu như bể đại dương, trùng điệp như vũ trụ bao la, không thể nghĩ bàn so sánh được. Để nhận hiểu ý trên, tôi tạm ẩn dụ:

Pháp môn của Đức Phật mỗi mỗi như một dược tánh của thảo dược. Đức Phật được nhơn thiên tôn xưng là Đấng “Vô thượng y vương”. Tùy theo tâm bệnh của chúng sinh mà đấng vô thượng y vương cho một toa pháp dược để điều trị. Ngài là “vua tối thượng của y học”.

Ví dụ: con người khổ đau nhiều, Đức Phật đã biết nguyên nhân khổ đau từ đâu, Ngài giải thích cho bệnh nhân đó nghe: “Các ngươi do từ lòng THAM NGŨ DỤC nhiều kiếp mà kết tụ thành khổ đau như: tham tài, do tham muốn tiền bạc của cải tích lũy cho nhiều, lòng tham ấy không đạt thành chí nguyện, các ông mất ăn mất ngủ, tâm lúc nào cũng đăm chiêu việc mong cầu đó. Kết quả thân tâm bị giày vò khổ đau. Các ông đâu biết tất cả nằm trong Nhân và Quả mà hình thành, bởi “nhân” tiền kiếp, gieo hạt giống bỏn sẻn kiếp này bảo “quả” của nó kết thành trái giàu sang như ý làm sao giàu sang được. Mà giàu sang như ý muốn không được gây ra thân tâm chịu nhiều khổ đau.

I-Đoạn trừ ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy):

      1/Tham tài:

Lòng tham muốn có được mảnh “văn bằng”, có được trí “thông minh” để trưng khoe với đời. Nếu không được như vậy thì khổ đau phải bôn ba bằng mọi cách để được mảnh bằng, phải dùng từ bóng bẩy, thu gom của những người nhai xong nhả ra (xác mía). Người có học lực, đôi khi nói ra nhưng chẳng hiểu ý nghĩa gì, giống như khuôn bánh in, cứ dập ra thành bánh, chẳng biết là ngon hay dở,…Nguyên nhân căn bệnh vô tài vô trí đó, do trước đây lười biếng (giải đãi), tâm hay vọng động điên đảo không giây phút dừng trụ (thiếu thiền định). Để cho lu nước đục chao lắc mãi làm sao thấy được tánh “trong”, bởi có định mới phát sinh trí “tuệ”. Đức Phật biết tâm bệnh của chúng sinh Ngài đưa ra toa thuốc: “Đầu thang là vị Vô tham gọi là thang danh và các tá dược: vị có chủ trị chặn đứng bỏn sẻn, vị phát tâm bố thí…Như vậy toa thuốc gồm có thang danh và tá dược (tánh dược) hợp cùng với nước “Nhân Quả” uống vào chắc chắn chấm dứt khổ đau về tham tài.

Tham tài còn là tham tài năng tài trí. Nguyên nhân trước đây do lười biếng, giải đãi, thiếu thiền định, mãi để tâm phóng dật vu vơ không giây phút dừng trụ cứ dong rủi, tán loạn. Kiếp này khổ đau về ngu si, vô trí, học đâu quên đó, thi gì trượt đó, không đỗ đạt. Lời nói thốt ra lòi cục dốt tổ bố hoặc người nghe họ đánh giá là học lóm v/v…rồi đâm ra buồn tủi khổ sầu. Nguyên nhân căn bệnh này tương tự như trên. Phật ra toa thuốc: lấy vị Tinh tấn + Thiền định làm thang danh, các tá dược như giữ tâm không điên đảo; vọng tưởng, không để nhãn căn tiếp xúc sắc trần, nhĩ căn tiếp xúc thinh trần, tỷ căn tiếp xúc với hương trần, thiệt căn tiếp xúc với vị trần, thân căn tiếp xúc với xúc trần. Các vị này nấu chung với nước ý thức, uống vào thì đạt trí Thành Sở Tác, chấm dứt tủi sầu về tham tài.

      2/Tham sắc: gồm sắc dục và cảnh sắc

        a/Sắc dục: Do tâm tham chứa ái dục không biết thỏa mãn, cứ đam mê theo bóng sắc, không trực ngộ “tắt đèn rồi trắng đen cũng như thế”. Từ bệnh tham ái ấy, gây biết bao nhiêu khổ đau, trên đao, dưới gậy, rước vào nhục nhã, lãnh án trước vành móng ngựa, bao nhiêu tiếng cười khinh bỉ của dòng họ 2 bên và bạn bè đều khinh khi nhàm chán.

        b/Cảnh sắc: Chạy theo model,…phải tiêu tứ thân xác cung phụng cho cái so sánh, tham trước cảnh sắc v/v…Tất cả từ nỗi lòng tham sắc không biết dừng nghĩ.

Đức Phật biết rõ tâm bệnh ấy của chúng sinh nên tìm ra phương dược. Lấy vị Vô tham làm thang danh, còn tá dược như: quán thân bất tịnh, phải nhận rõ xác thân là dơ bẩn, nó chỉ che một lớp da mỏng cho là đẹp, một khi lột bỏ lớp da ấy nhìn lại trong thân còn đẹp hay không? hay chỉ lớp nhầy nhụa hôi tanh.

Còn cảnh sắc như nhà cửa xe cộ, quần này áo nọ, đồng hồ, điện thoại cao cấp đắc tiền, chỉ là trang điểm dáng vẽ bên ngoài làm cho xác thân phải bươn chải bon chen, đổ mồ hôi, xót con mắt để sắm sửa cảnh sắc hào nhoáng bên ngoài, chỉ đổi lấy năm ba tiếng khen đầu môi chót lưỡi, cộng với chín mười tiếng dèm xiển của thế nhân, còn thêm ngứa tay ngứa mắt cho kẻ ác gian. Thậm chí vô quán ăn không ngon, bởi mắt lo nhìn chiếc xe. Ngủ chỉ chợp mắt, tai nghe tiếng động do chó mèo chạy…khổ sở biết chừng nào, chỉ vì đắm mê hình sắc.

Đức Phật dùng thảo dược Vô cầu làm thang danh. Kèm theo tá dược như “của năm nhà” của bà thủy, bà hỏa, vua quan, nịnh thần, trộm cướp, con cháu phá sản. Nấu với nước Vô thường biến dịch. Như vậy, sự sản của cải đâu phải tồn tại vĩnh viễn của mình. Uống thang thuốc này 1 cách trân trọng sẽ chấm dứt căn bệnh khổ tâm về tham sắc.

       3/Tham danh: Là danh vị, chức tước.

Nguyên nhân căn bệnh này từ chấp ngã, chấp giả danh dẫn đến tranh đua, gây nhiều phiền toái khổ đau. Phải hiểu danh là cái nhãn mác trưng khoe của bản ngã. Danh như gió thoảng mây bay, như bọt nước như bóng ngựa qua cửa sổ, chỉ thấp thoáng liền tan biến. Chúng sinh mắc phải chứng bệnh tham danh này mà phải bôn ba khổ đau gục ngã trên chiến trường tranh danh.

Để chấm dứt bệnh này, Đức Phật chế ra thang thuốc lấy vị phá ngã làm thang danh. Còn các tá dược như: nhãn mác, như bóng cầu, như bèo bọt không tồn tại. Thuốc này hợp chung với nước Vô ngã uống vào sẽ hết bệnh ngay.

      4/Tham thực, tham thùy và vô số bệnh khác:

Đức Phật đã biết, Ngài chế ra nhiều loại diệu dược. Mỗi loại thuốc có nhiều loại thảo dược dẫn đầu thang, cộng với nhiều loại tá dược để trị, tùy theo căn bệnh của chúng sinh. Tuy nhiên phải lưu ý quan trọng rằng: vị thuốc nào cũng diệu dược nhưng mỗi bài thuốc chủ trị một thức bệnh. Không nên cho rằng: thuốc nào cũng tốt, rồi mang hết kệ thuốc mấy ngàn vị đổ chung 1 nồi sắc uống, coi chừng bị phản tác dụng dẫn đến chết người (loạn thuốc). Pháp môn của Phật định chế ra rất nhiều (84.000) pháp để trị tâm bệnh của chúng sinh. Người học Phật áp dụng cần phải trí tuệ khéo léo điểm này. Phải có trạch pháp để ứng dụng mà tu, không khéo bị loạn pháp như dẫn dụ nêu trên.

   Chú ý: Có những pháp áp dụng cùng một lúc 5,10 thứ nhưng phải biết pháp chính để chủ trị, còn các pháp kia là tá dược. Bất kỳ thuốc nào cũng có quân, thần, tá, sứ cùng đi kèm, phải suy nghiệm kỹ lời dẫn dụ nên trên.

II- Dẫn dụ 3 pháp môn Thiền – Tịnh – Mật:

      1.Thiền Tông: Dẫn dụ Thiền tông như là nhà bác học, là phòng thí nghiệm nghiên cứu, là trung tâm vũ trụ NASA.

Thiền tông là pháp môn tối thượng trong các pháp môn. Pháp môn nào cũng lấy thiền làm căn bản để ứng dụng tu tập. Ở đây chỉ nói nôm na Thiền chỉ cho sự chú tâm, định tâm, trụ tâm và nhứt tâm. Tu pháp môn niệm Phật (Tịnh độ) cũng phải áp dụng định tâm niệm Phật, v/v..không có chỗ nào dạy…tán tâm niệm Phật hay loạn tâm niệm Phật. Như vậy, niệm Phật phải kèm theo Thiền trong đó. Tu pháp môn trì chú (Mật tông) cũng phải có thiền đi cùng. Vì trì chú hành giả phải chuyên nhất hay “miên mật” trì chú. Chứ chẳng ai dạy “…phải vọng tưởng, điên đảo, tán loạn trì chú ?”

Như thế cho biết rằng hành trì tu tập bất kỳ pháp môn nào cũng đều lấy thiền làm nền tảng. Nếu thiếu thiền định, coi như người hành trì suốt kiếp không bao giờ thành tựu được gì cả. Như vậy, thiền là chủ lực trong mọi sự sinh hoạt của cuộc sống, chưa luận đến lĩnh vực tâm linh (tư tưởng). Trên đời từ học hành cho đến làm bất kỳ công việc gì đều phải chú tâm, chuyên tâm,…thì sự thành công kết quả chắc chắn đạt thành. Nhưng trong quá trình thiền định phải có một định hướng.

   Ví dụ: khi nghiên cứu về vũ trụ thì người nghiên cứu phải có ý chí say mê, kiềm tỏa 6 thức không cho loạn tạp và tiếp xúc 6 trần khởi sanh tạp thức. Ngay cả ăn uống, ngủ, nghỉ, vợ con, danh vọng, tiền tài,..tất cả đều không màn đến nghĩ đến, chỉ chuyên nhất tìm cho kỳ được một định đề, một công thức, giải mã bài toán tư tưởng (không gian đa chiều) giống như vị thiền sư. Khi nhiếp chế 5 thức ngoài chuyển qua thành sở tác trí (thô phù của Đại Viên Cảnh Trí từ A Lại Da), lúc bấy giờ khái niệm vũ trụ quan một cách tròn đầy như Đại Viên Cảnh Trí. Khi qua sự nhận định vào thức thứ 6 (ý thức) thanh tịnh gắn kết cùng thành sở tác trí nó sẽ tự nghiền ngẫm ra được một “viễn vọng kính”, nhìn lên vũ trụ để quan sát, khi hiển đạt chổ này tạm gọi là “diệu quán sát trí” (viễn vọng kính quán sát hành tinh vũ trụ). Vậy viễn vọng kính từ đâu mà có, phải chăng do 6 thức an trụ rồi tìm ra. Như thế ta biết rằng “viễn vọng kính” biến chế ra được thành hữu thể vật chất do từ tâm thức của mỗi con người chúng ta, nếu chúng ta “thiền định” nhiếp chế nó thì không những “viễn vọng kính” mà vô lượng hữu thế vật chất cả vũ trụ hành tinh nó đều diệu quán sát được cả bởi “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Dẫn chứng như các nhà bác học tu tập tư duy thiền định trong phòng thí nghiệm. Không để 6 căn, 6 trần duyên khởi tạp loạn. Họ chuyên chú vào một điểm, họ miệt mài, miên mật cho một ý tưởng đó. Một lúc nào đó họ sẽ bừng ngộ giải mã được công thức đó, bài toán đó, tìm ra được nguyên lý để khám phá cho vấn đề đó, chẳng hạn quỹ đạo của mặt trăng, hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, v/v…

Họ không cần đi, nhưng họ thấy một cách chuẩn xác, từ quỹ đạo trái đất cho đến đáp vô quỹ đạo mặt trăng,…không sai sót nên tạm nói họ đạt được cảnh giới diệu quán sát trí của phàm phu. Huống hồ thay, người tu thiền định đạt được 8 thức chuyển thành tứ trí, Cảnh giới này rất siêu việt.

      2/Mật Tông:

Mật tông là năng lực, là động cơ, là phương tiện để dẫn người đi nhanh đến điểm đích. Mật tông như con dao hai lưỡi và rất sắc bén. Người tu Mật tông sử dụng đúng chánh pháp thì nó dẫn người đi đúng chánh pháp, nếu sử dụng theo tà pháp nó dẫn người vào tà đạo một cách nhanh chóng. Khi sử dụng Mật tông phải có minh sư hướng dẫn đúng pháp bởi nó có rất nhiều bộ phận kết thành hệ thống động cơ.

   Ví dụ:Trong hệ thống Mật giáo về chánh thống của Phật và Bồ Tát chỉ một số ít, còn lại đa số nằm trong thần giáo vì thế ta thường nói các chúng bộ Thần chứ không ai nói các chúng Phật và Bồ Tát cả.

Hệ thống động cơ ấy được kết thành từ nhiều bộ phận và rất phức tạp. Ví như trong chiếc xe máy gồm có nước, có lửa, có nhiệt lượng, có giảm nhiệt, có nhông thuận chiều, có nhông nghịch chiều v/v và v/v.. Phối hợp đúng theo vị trí sở năng, sở hành của nó thì chiếc máy đó vận hành tốt, bằng ngược lại chỉ cần xê dịch chút xíu nó không bao giờ vận hành được, thậm chí nổ tung là khác. Mật tông cũng thế, Đà Ra Ni của Phật và Bồ Tát nói, trong đó các bộ Thần của ngoại đạo cũng nói lên thần chú nhằm hỗ tương với nhau.

Thêm một dẫn dụ nữa, Đà Ra Ni của Phật và Bồ Tát nhằm tóm yếu của bí mật pháp môn giống như chiếc chìa khóa mở cửa. Quan trọng người sử dụng chiếc chìa khóa đó đến nơi đến chốn, răng khía có khớp với nhau chưa? Không khéo bị lọi chìa, trịch đạn. Lúc ấy chỉ còn đứng ngoài không vào cửa Pháp môn được.

Như vậy, pháp gì cũng phải có “ý tứ và trầm tĩnh” (thiền tông) thường còn phải “khớp” với nhau như thế. Nói đến động cơ của vệ tinh, của phi thuyền để bay vào vũ trụ và các hành tinh. Động cơ này rất tinh vi, chỉ sai một chút là nó lạc ngoài vũ trụ bao la. Ở đây ám chỉ cho phi hành gia ham thích bay vào vũ trụ để quan sát cho đã mắt, cho thỏa chí, mà bản thân người đó lái ô tô trên mặt đất còn chưa xong? Có nghĩa là các chú thông dụng còn lúc quên lúc nhớ. Cứ ham thích những thần chú trên thiên đình dưới địa phủ. Đây chỉ cho người nuôi vọng tưởng, nuôi ước mơ, để được bay gấp lên thiên đình, ngỏ hầu khoe khoang với mọi người rằng “ta” đã đi vào vũ trụ, đạt đến tuyệt đỉnh của nhân loại. Số người có vọng tưởng kiểu đó, chẳng qua nghe thoang thoảng lời diễn tả của các nhà bác học rằng vũ trụ đẹp như thế này, tinh tú đẹp như thế nọ. Nếu đủ duyên được nhìn vào viễn vọng kính thiên văn (như được xem một số luận thuyết mật tông đã diễn tả) vội vàng ham thích, muốn gấp rút bay vào vũ trụ. Trong khi đó trình độ kiến thức về toán học, khả năng thao tác phi thuyền chưa chút khái niệm, chỉ nghe người nói và xem qua một số tài liệu, đồ hình v/v..(như nghe giảng qua mật tông và xem một số kinh sách mật tông) lại vội vàng phóng lên phi thuyền để lái (để tu) không cần các nhà thiền sư bác học của trung tâm NASA điều khiển. Chỉ nghe mấy người tà lọt (cạo giấy) của phòng nghiên cứu diễn đạt, vội tin theo cho ta gặp được minh sư truyền chỉ (thọ ký – quán đảnh). Nên nhớ kỹ một điều, minh sư phải là người xuất gia có địa vị trong hàng Tam Bảo (Tăng Bảo) mới đủ tư cách chứng truyền (Tam bảo là Phật – Pháp –Tăng) chứ không có cư sĩ bảo hay nói rõ trực tiếp với nhà bác học thuyết minh. Chớ nên nghe “tà lọt” nói, liền vội lên phi thuyền làm theo (lái).

Tóm lại, người hành trì Mật Tông như phi hành gia gắn liền với phi thuyền. Phi thuyền là tướng pháp Mật Tông, tướng pháp chỉ là năng lực, động cơ, phương tiện,…Quan trọng là phi hành gia (người điều khiển) phải cho khí gì đốt trước, nhiên liệu gì đốt sau, nhấn nút gì để bỏ lớp vỏ, nhấn nút gì để giữ phần còn lại, hành trình trên không gian phải nhận tín hiệu từ trung tâm NASA của minh sư (các nhà bác học), ký hiệu gì để nhấn nút cho phi thuyền đi thẳng vào quỹ đạo của hành tinh đó v/v..Mật tông cũng thế, nên trì chú gì trước, chú gì kế đó, tiếp theo là chú gì…chứ không nên nghe nói “hỏa tinh” có sự sống liền vội vàng nhấn nút, nghe tà lọt, bảo nút đó, nút đó (bắt ấn) tức là nhấn nút cho bay.

     3/Tịnh độ tông:

Tịnh độ là điểm đích của chuyến du hành. Ví dụ: điểm đến của Mặt trăng, sao Thủy, sao Kim, sao Mộc, sao Thổ, sao Hỏa,…Tịnh độ là điểm có định vị mà đức Phật A Di Đà đã vạch ra sự vận hành chính là “cửu phẩm liên hoa”, dụ cho 9 hành tinh trong thái dương hệ. Kèm theo các nhà bác học trước đây đã tìm ra sự vận hành trong quỹ đạo của Thái Dương hệ, có nghĩa trước đây các “Tịnh Độ Sư”, các nhà niệm Phật được vãng sanh mà Đức A Di Đà là bậc đạt đến Pháp giới tàng thân đã chỉ cho 9 bậc (cửu phẩm liên hoa) cho chúng sinh nơi cõi ta bà (địa cầu) nhận rõ từ gần đến xa, tất cả đều vận hành (quỹ đạo) chung quanh hệ mặt trời (vô lượng quang). Tóm lại, trên đây tạm dẫn dụ để hành giả tự suy diễn hầu nắm rõ 3 tông pháp mà ứng dụng.

III.Kết luận:

      Thiền tông: Ví như trung tâm nghiên cứu vũ trụ NASA, các nhà bác học trong hội đồng nghiên cứu cùng các công thức, toán học, không gian đa chiều, đường bay ra quỹ đạo trái đất và quỹ đạo đáp vào mặt trăng v/v…không để sai sót một hào ly. Tu thiền cũng như thế, tập trung tư tưởng, thấy tâm, trói tâm, phục tâm, đến vô chấp tâm (buông tâm) luôn luôn theo dõi sự vận hành (sanh khởi) của nó. Không lơ đểnh một sát na nào.

      Mật tông: Như chiếc phi thuyền được chế ra, nó phải chịu áp suất của không khí (ma chướng) không khéo nó bị nghiền ra cám, trở thành đồ đệ của bụi không gian (bè lũ thiên ma). Chiếc phi thuyền (Mật tông) lúc bay phải tùy thuộc vào tâm thức (duy thức) phối hợp của trung tâm NASA. Trường hợp nào ráp nối, trường hợp nào phải tách vỏ bỏ bớt, chứ không phải khư khư mang cả khối phi thuyền bay vào vũ trụ. Mật tông cũng thế, cần những thần chú gì, không cần những thần chú gì, chứ không phải ứng dụng cùng 1 lúc cả tạng mật tông, nó sẽ loạn cào cào.

      Tịnh độ tông: Là pháp môn trực chỉ về điểm đó là đường bay có định vị, có phương thức bay (tức niệm Phật phải có phương thức, phải có nhứt tâm = tín, hạnh, nguyện định vị thì mới vãng sanh được.

Tóm yếu 3 tông pháp gắn liền không thể thiếu một. Như dẫn dụ trên phải có những nhà bác học của trung tâm NASA dụ cho thiền tông, chiếc phi thuyền và phi hành gia dụ cho mật tông và quỹ đạo, hành tinh cho Tịnh độ tông. Ba yếu tố trên luôn gắn kết, không lìa hở. Nếu không gắn liền 3 yếu tố này, cũng giống như:

  • Nhà bác học chỉ nghĩ ra, ghi công thức vào tài liệu đem nhốt vào trong tủ (tạm gọi là thiền không tưởng).
  • Chế phi thuyền và thiếu phi hành gia có trình độ để điều khiển thì phi thuyền ấy chỉ để triển lãm chơi (mật tông không thực dụng).
  • Có đủ 2 yếu tố thiền và mật mà không có định vị (không tịnh độ) không cần quỹ đạo, thì không đáp xuống được hành tinh nào cả, cứ bay lơ lững trên không gian vô tận, cuối cùng va chạm ngoại hành tinh hoặc lạc vào hố đen vũ trụ, tán ra tro bụi,…trên đường tu cũng thế, cứ quanh quẩn không lối thoát nơi 6 nẻo.

Đứng về pháp tướng thì có Phật có chúng sinh, có vũ trụ, có nhân sinh,…do trong vòng đối đãi và vô minh. Khi đạt được pháp giới thể tánh trí thì không có vũ trụ, không có phi thuyền để tìm tòi chi cả bởi nó cắt đứt tham vọng, mọi tư tưởng điên đảo thì cần phải tìm kiếm, tốn công sức, tốn mấy tỷ đô la,…tất cả cũng chỉ để trưng khoe tài trí ngông nghênh. Như đã nói trên, dưới mặt đất còn chưa biết hết, mà tìm ra vũ trụ để làm gì, thì trên đường tu cũng thế:

  • Có thấy hành vi của 5 căn tiếp xúc với 5 trần sanh ra 5 thức , có ngăn chặn cho nó dừng trụ được không?
  • Có nhận được từng sát na vô thường biến dịch trong thân?
  • Có trải được lòng từ bi thương chúng sinh từ trong cọng rau, trong bát nước,…?

Trên đây là tướng tu thông thường nhứt, có tu được rốt ráo chưa? Cứ lo tìm Tôn Thắng Đà ra ni, Chuẩn Đề Đại Pháp, Kim Cang Thừa, Đại Nhựt, Tỳ Lô tánh hải v/v…tức là đi tìm vũ trụ mà vũ trụ pháp giới từ đâu có, hãy nghe bài kệ trong kinh hoa nghiêm:

“Nhược nhơn dục liễu tri

Tam thế nhứt thiết Phật

Ứng quán pháp giới tánh

Nhứt thiết duy tâm tạo”

Nghĩa là:

“Nếu người muốn biết rõ

Ba đời tất cả Phật

Đều quán tánh pháp giới

Tất cả đều do tâm tạo”

Có lần có người hỏi Phật:

Bạch Thế Tôn: “Ngài chưa đi hết nước Ấn Độ, Ngài làm sao nhận biết cả đại thiên thế giới?”

Phật trả lời: Đâu phải đợi đi hết vũ trụ mới biết vũ trụ hay sao? Với Như Lai trí, chỉ cần nhìn vào hạt cát là biết cả vũ trụ “ứng quán pháp giới tánh đều do tâm”.

Và Đức Phật dạy: “Chư ác mạt tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”

Nghĩa là:

“Các ác chớ làm, việc thiện năng làm, tự giữ ý trong sạch, là lời Phật dạy”

Chỉ lời dạy tóm gọn, nếu áp dụng trọn vẹn là thành Phật.

 

 

 

(HT Thích Nhật Quang)

Biên soạn tháng 6/2018

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.